User Tools

Site Tools


10593-k-l-c-gi-i-v-ch-b-ng-th-gi-i-la-gi

Dưới đây là danh sách các kỷ lục của Giải vô địch bóng đá thế giới.

Số liệu cập nhật đến vòng chung kết World Cup 2018
Tham dự nhiều vòng chung kết nhất
21,  Brasil (Đội duy nhất tham dự đủ tất cả các vòng chung kết World Cup)
Vô địch nhiều lần nhất
5,  Brasil
Hạng Đội Giải
1  Brasil (1958, 1962, 1970, 1994, 2002) 5
2  Đức (1954, 1974, 1990, 2014) 4
3  Ý (1934, 1938, 1982, 2006) 4
4  Uruguay (1930, 1950)
 Argentina (1978, 1986)
 Pháp (1998, 2018)
2
6  Anh (1966)
 Tây Ban Nha (2010)
1
Chơi nhiều trận chung kết nhất
8,  Đức 7,  Brasil 6,  Ý 5,  Argentina
Nhiều lần lọt vào top 4 đội mạnh nhất
13,  Đức
Thi đấu nhiều trận nhất
99,  Đức
Thi đấu ít trận nhất
1,  Indonesia (với tên đội  Đông Ấn Hà Lan)
Thắng nhiều trận nhất
67,  Brasil
Thua nhiều trận nhất
24,  México
Hòa nhiều trận nhất
21,  Ý
Thi đấu nhiều trận nhất mà chưa từng thắng hoặc hòa
6,  El Salvador
Thi đấu nhiều trận nhất mà chưa từng thắng
6,  Bolivia,  El Salvador,  Honduras,  New Zealand
Ghi nhiều bàn thắng nhất
224,  Đức[1]
Thủng lưới nhiều bàn nhất
117,  Đức
Ghi ít bàn thắng nhất
0,  Canada,  Trung Quốc,  Indonesia (với tên đội  Đông Ấn Hà Lan),  Trinidad và Tobago, và  CHDC Congo (với tên đội  Zaire).
Thủng lưới ít bàn nhất
2,  Angola
Thi đấu nhiều trận nhất mà chưa từng ghi bàn thắng
3,  Canada,  Trung Quốc,  Trinidad và Tobago, và  CHDC Congo (với tên đội  Zaire).
Tỉ lệ ghi nhiều bàn thắng nhất mỗi trận
2,72,  Hungary
Tỉ lệ để thủng lưới ít nhất mỗi trận
0,67,  Angola (thủng lưới 2 bàn trong 3 trận)
Hai đội gặp nhau nhiều nhất
7 lần,  Brasil vs  Thụy Điển (1938, 1950, 1958, 1978, 1990 và hai lần tại giải năm 1994)
Hai đội gặp nhau nhiều nhất tại trận chung kết
3 lần,  Argentina vs  Đức (1986 & 1990 & 2014)
Tham gia nhiều lần nhất mà luôn vượt qua vòng bảng
3,[2] Cộng hòa Ireland
Tham gia nhiều lần nhất mà luôn bị loại ở vòng bảng
8,  Scotland

Tại cùng một kỳ World Cup[sửa | sửa mã nguồn]

Đội vô địch thắng liên tiếp nhiều trận nhất
7,  Brasil 2002
Ghi nhiều bàn thắng nhất
27 bàn,  Hungary, 1954
Thủng lưới ít bàn nhất
0 bàn,  Thụy Sĩ, 2006
Thủng lưới nhiều bàn nhất
16 bàn,  Hàn Quốc, 1954
Giữ sạch lưới lâu nhất
517 phút,  Ý, 1990
Hiệu số bàn thắng-bàn thua cao nhất
+17,  Hungary, 1954
Hiệu số bàn thắng-bàn thua thấp nhất
-16,  Hàn Quốc, 1954
Tỉ lệ số bàn thắng cao nhất ghi được mỗi trận đấu
5.40,  Hungary, 1954
Đội vô địch ghi được nhiều bàn thắng nhất
25 bàn,  Đức, 1954
Đội vô địch ghi được ít bàn thắng nhất
8,  Tây Ban Nha, 2010[3]
Đội vô địch để thủng lưới ít nhất
2 bàn,  Pháp, 1998,  Ý, 2006 và  Tây Ban Nha, 2010
Đội vô địch để thủng lưới nhiều nhất
14 bàn,  Đức, 1954
Đội đương kim vô địch có thành tích tệ nhất
1 hòa, 2 bại và ghi được 0 bàn thắng,  Pháp, 2002[4]
Đội chủ nhà có thành tích tệ nhất
không vượt qua vòng đấu bảng: Nam Phi 2010
Đội không vô địch có nhiều trận thắng nhất[5]
6,  Hà Lan, 2010 ( Hà Lan cũng thắng cả tám trận vòng loại)
Đội vô địch thua nhiều nhất
1,  Đức, 1954 và 1974;  Argentina, 1978;  Tây Ban Nha, 2010
Đội chiến thắng các đội cựu vô địch nhiều nhất[6]
3,  Brasil (1970),  Ý (1982),  Argentina (1986),  Đức (2010).[7]
Đội thắng liên tiếp tại vòng knock out đều bằng những loạt sút luân lưu 11 mét
2,  Argentina (1990),  Croatia (2018).[8]
Đội liên tiếp phải thi đá luân lưu 11 mét tại vòng knock out nhưng thắng 1 trận và thua 1 trận
2,  Tây Ban Nha 2002[9] Costa Rica[10] Hà Lan 2014[11] Nga 2018[12]
Đội lập kỷ lục liên tiếp thi đấu hiệp phụ nhiều nhất
3,  Anh (1990)[13] Croatia (2018)[14]
Đội không thua trận nào nhưng vẫn bị loại ngay từ vòng đấu bảng
3,  New Zealand 2010 (hòa cả ba trận).
Đội không thắng trận nào nhưng vẫn lọt vào vòng tứ kết
4,  Cộng hòa Ireland 1990[15]
Đội bất bại nhưng chỉ giành được vị trí á quân
7,  Pháp 2006[16]
Đội không thua trận nào nhưng chỉ xếp ở vị trí thứ ba
7,  Ý 1990[17] Hà Lan 2014[18]
Đội không thua trận nào nhưng vẫn bị loại ở vòng tứ kết
5,  Brasil [19] México[20]1986  Ý 1998[21] Tây Ban Nha 2002[22] Anh Argentina 2006[23] Costa Rica 2014[24]
Đội không thua trận nào và không để lọt lưới nhưng vẫn bị loại ở vòng 1/8
 Thụy Sĩ 2006[25]

Các chuỗi[sửa | sửa mã nguồn]

Vô địch liên tiếp
2,  Ý (1934–1938) và  Brasil (1958–1962).
Các đội cùng 1 liên đoàn bóng đá liên tiếp giành chức vô địch
4, UEFA (2006-2018).[26]
Các đội cùng 1 liên đoàn bóng đá lọt liên tiếp vào trận chung kết
2, UEFA (1934-1938)[27] và (2006-2010)[28]
Lọt vào tới trận chung kết liên tiếp
3,  Đức (1982–1990) và  Brasil (1994–2002) 2,  Ý (1934–1938) và  Brasil (1958–1962) và  Hà Lan (1974–1978) và  Argentina (1986–1990).
Các đội chủ nhà liên tiếp giành chức vô địch
2,  Uruguay 1930 và  Ý 1934,  Đức 1974 và  Argentina 1978
Các đội đương kim vô địch liên tiếp bị loại ở vòng đấu bảng
3,  Ý 2010,  Tây Ban Nha 2014,  Đức 2018
Hai đội gặp nhau liên tiếp trong các trận chung kết
2,  Đức Argentina (1986–1990).
Các trận chung kết liên tiếp phải giải quyết thắng thua bằng hiệp phụ và đều có cùng tỷ số 1 - 0
2, 2010  Tây Ban Nha gặp  Hà Lan và 2014  Đức gặp  Argentina
Giành ngôi á quân liên tiếp
2,  Hà Lan (1974–1978) và  Đức (1982–1986).
Lọt vào bán kết liên tiếp
4,  Đức (2002–2014) 3,  Đức (1966–1974) và (1982–1990) cùng  Brasil (1994–2002) 2,  Pháp (1982–1986) và  Argentina (1986–1990) và  Hà Lan (2010–2014).
Giành vị trí thứ 3 liên tiếp
2  Đức (2006–2010).
Liên tiếp bị loại ở vòng knock out bởi cùng 1 đối thủ
3,  Argentina (2006–2014)[29] 2,  Pháp (1982-1986)[30] Hà Lan (1994–1998)[31] México (2006-2010)[32]
Thua liên tiếp ở vòng knock out bởi các loạt đá luân lưu 11 mét
3,  Ý (1990–1998).[33]
Liên tục bị loại ở vòng 1
8,  Scotland (1954–1958, 1974–1990, 1998).
Liên tiếp vượt qua vòng bảng nhưng đều bị loại ở vòng 1/8
7  México (1994–2018).
Liên tiếp nằm cùng bảng đấu
3,  Argentina Nigeria (2010-2018).
Số lần tham dự vòng chung kết liên tiếp
21,  Brasil (1930–2018) 17,  Đức (1954–2018) 14,  Ý (1962–2014) 12,  Argentina (1974–2018) 11,  Tây Ban Nha (1978 - 2018).
Số lần liên tiếp vượt qua vòng loại[34]
8,  Tây Ban Nha (1986–2018).
Số lần liên tiếp không vượt qua vòng loại
19,  Luxembourg (1934–2018).
Số trận thắng liên tiếp
11,  Brasil, từ trận thắng 2-1 trước tuyển Thổ Nhĩ Kỳ (2002) tới trận thắng 3-0 trước tuyển Ghana (2006).
Số trận liên tiếp bất bại
13,  Brasil, từ trận thắng 3-0 trước tuyển Áo (1958) tới trận thắng 2-0 trước tuyển Bulgaria (1966).
Số trận thua liên tiếp
9,  México, từ trận thua 1-4 trước tuyển Pháp (1930) tới trận thua 0-3 trước tuyển Thụy Điển (1958).
Số trận liên tiếp không giành thắng lợi
17,  Bulgaria, từ trận thua 0-1 trước tuyển Argentina (1962) tới trận thua 0-3 trước tuyển Nigeria (1994).
Số trận hòa liên tiếp
5,  Bỉ, từ trận hòa 0-0 trước tuyển Hà Lan (1998) tới trận hòa 1-1 trước tuyển Tunisia (2002).
Số trận liên tiếp mà không hòa
16,  Bồ Đào Nha, từ trận thắng 3-1 trước tuyển Hungary (1966) tới trận thắng 1-0 trước tuyển Hà Lan (2006).
Số trận liên tiếp mà ghi ít nhất một bàn thắng
18,  Brasil (1930–1958) và  Đức (1934–1958).
Số trận liên tiếp mà ghi ít nhất hai bàn thắng
11,  Uruguay (1930–1954)
Số trận liên tiếp ghi được tối thiểu ba / bốn bàn
4,  Uruguay (1930–1950) và  Hungary (1954) (4 bàn);  Bồ Đào Nha (1966),  Đức (1970),  Brasil (1970) (3 bàn)
Số trận liên tiếp ghi được tối thiểu sáu / tám bàn
2,  Hungary (1954) (8 bàn);  Brasil (1950) (6 bàn)
Số trận liên tiếp không ghi được bàn thắng
5,  Bolivia (1930–1994).
Số trận liên tiếp giữ sạch lưới
5,  Ý (1990).
Số trận liên tiếp bị thủng lưới ít nhất một bàn
22,  Thụy Sĩ (1934–1994).
Số trận liên tiếp bị thủng lưới ít nhất hai bàn
9,  México (1930–1958).
Số trận liên tiếp bị thủng lưới ít nhất ba bàn
5,  México (1930–1950).
Số trận liên tiếp bị thủng lưới ít nhất bốn bàn
3,  Bolivia (1930–1950),  México (1930–1950).
Số trận liên tiếp bị thủng lưới ít nhất năm / sáu / bảy bàn
2,  Hàn Quốc (1954) (7 bàn);  Hoa Kỳ (1930–1934) (6 bàn);  Áo (1954) (5 bàn).
Giữ sạch lưới lâu nhất
517 phút,  Thụy Sĩ, (2006–2010)
Tham dự nhiều vòng chung kết nhất
5, Antonio Carbajal ( México, 1950–1966), Lothar Matthäus ( Đức, 1982–1998), Gianluigi Buffon ( Ý, 1998–2014), Rafael Márquez ( México; 2002–2018)
Vô địch nhiều lần nhất
3, Pelé ( Brasil, 1958, 1962 và 1970).
Chơi nhiều trận nhất tại vòng chung kết
25, Lothar Matthäus ( Đức, 1982–1998).
Chơi tổng cộng nhiều phút nhất tại vòng chung kết
2,217 phút, Paolo Maldini ( Ý, 1990–2002).
Chơi nhiều trận nhất tại vòng loại
68, Iván Hurtado ( Ecuador, 1994–2010)
Thắng nhiều trận nhất
16, Cafu ( Brasil, 1994–2006).
Chơi nhiều trận chung kết World Cup nhất
3, Cafu ( Brasil, 1994–2002).[35]
Nhiều lần mang băng đội trưởng nhất
16, Diego Maradona ( Argentina, 1986–1994).
Nhiều lần vào sân từ băng ghế dự bị nhất
11, Denílson ( Brasil, 1998–2002).
Cầu thủ trẻ nhất
17 tuổi và 41 ngày, Norman Whiteside ( Bắc Ireland, trong trận gặp Nam Tư, 1982).[36]
Cầu thủ trẻ nhất chơi một trận chung kết
17 tuổi và 249 ngày, Pelé ( Brasil, trong trận gặp Thụy Điển, 1958).
Cầu thủ trẻ nhất chơi một trận vòng loại
13 tuổi và 310 ngày, Souleymane Mamam ( Togo, trong trận gặp Zambia, 2002).[37]
Đội trưởng trẻ nhất
21 tuổi và 109 ngày, Tony Meola ( Hoa Kỳ, trong trận gặp Tiệp Khắc, 1990).
Đội trưởng già nhất
45 tuổi 161 ngày, Essam El-Hadary (Ai Cập, trong trận gặp  Ả Rập Xê Út, 2018).[38]
Cầu thủ lớn tuổi nhất
45 tuổi 161 ngày, Essam El-Hadary (Ai Cập, trong trận gặp  Ả Rập Xê Út, 2018)[38]
Cầu thủ lớn tuổi nhất thi đấu một trận chung kết
40 tuổi và 133 ngày, Dino Zoff ( Ý, trong trận gặp Đức, 1982).
Cầu thủ lớn tuổi nhất thi đấu một trận vòng loại
46 tuổi và 180 ngày, MacDonald Taylor ( Quần đảo Virgin thuộc Mỹ, trong trận gặp St. Kitts và Nevis, 2006).[39]
Khoảng cách lớn nhất khi được ra sân tại 2 kỳ World Cup
16 năm, Faryd Mondragón ( Colombia, 1998–2014).
Khoảng cách lớn nhất khi được tham gia tại 2 kỳ World Cup
20 năm, Faryd Mondragón ( Colombia, 1994–2014).
Tham dự 2 kỳ World Cup qua hai màu áo đội tuyển khác nhau
Luis Monti, người mang 2 quốc tịch Argentina và Italia. Ở trận chung kết World cup 1930, Luis Monti khoác áo đội tuyển  Argentina. Bốn năm sau, Luis Monti khoác áo đội tuyển  Ý tham gia Giải vô địch bóng đá thế giới 1934.[36]

Cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi được nhiều bàn thắng nhất trong các vòng chung kết
16, Miroslav Klose ( Đức, 2002–2014)
Ghi được nhiều bàn thắng nhất tại vòng loại
35, Ali Daei ( Iran, 1994–2006).[40]
Ghi được nhiều bàn thắng nhất tại một vòng chung kết
13, Just Fontaine ( Pháp), 1958, cũng là cầu thủ duy nhất ghi bàn trong tất cả các trận của một đội bóng tham dự World Cup.[36]
Ghi nhiều bàn nhất trong một trận
5, Oleg Salenko ( Nga, 5 bàn trong trận gặp Cameroon, 1994).[36]
Ghi nhiều bàn nhất trong một trận thua
4, Ernest Wilimowski ( Ba Lan, trong trận gặp Brasil, 1938).
Ghi nhiều bàn nhất trong một trận vòng loại
13, Archie Thompson ( Úc, trong trận gặp Samoa thuộc Mỹ, 2002).
Ghi nhiều bàn nhất trong một trận chung kết
3, Geoff Hurst ( Anh, trong trận gặp Tây Đức, 1966).
Số trận ghi ít nhất được một bàn thắng
11, Ronaldo ( Brasil, 1998–2006).
Số trận liên tiếp ghi ít nhất được một bàn thắng
6, Just Fontaine ( Pháp, 1958) và Jairzinho ( Brasil, 1970).
Số trận ghi ít nhất được hai bàn thắng
4, Sándor Kocsis ( Hungary, 1954), Just Fontaine ( Pháp, 1958), và Ronaldo ( Brasil, 1998–2006).
Số trận liên tiếp ghi ít nhất được hai bàn thắng
4, Sándor Kocsis ( Hungary, 1954).
Ghi được nhiều hat-trick nhất
2, Sándor Kocsis ( Hungary, 1954), Just Fontaine ( Pháp, 1958), Gerd Müller ( Tây Đức, 1970), và Gabriel Batistuta ( Argentina, 1994 và 1998).
Số trận liên tiếp đều ghi được hat-trick
2, Sándor Kocsis ( Hungary, 1954) và Gerd Müller ( Tây Đức, 1970).
Khoảng thời gian nhanh nhất để hoàn thành hat-trick
8 phút, László Kiss ( Hungary), ghi bàn ở các phút 69', 72', và 76' trong trận gặp El Salvador, 1982.
Ghi bàn tại tất cả các trận đấu tại một kỳ World Cup
Alcides Ghiggia ( Uruguay), 4 bàn trong 4 trận (1950), Just Fontaine ( Pháp), 13 bàn trong 6 trận (1958), Jairzinho ( Brasil), 7 bàn trong 6 trận (1970).[41]
Số giải đấu ghi được ít nhất một bàn
4, Pelé ( Brasil, 1958–1970) và Uwe Seeler ( Tây Đức, 1958–1970). Miroslav Klose (Đức, 2002–2014).
Số giải đấu ghi được ít nhất hai bàn
4, Uwe Seeler ( Tây Đức, 1958–1970). Miroslav Klose (Đức, 2002–2014).
Số giải đấu ghi được ít nhất ba bàn
3, Jürgen Klinsmann ( Đức, 1990–1998) và Ronaldo ( Brasil, 1998–2006). Miroslav Klose (Đức, 2002–2010).
Số giải đấu ghi được ít nhất bốn bàn
3, Miroslav Klose ( Đức, 2002–2010).
Số giải đấu ghi được ít nhất năm bàn
2, Teófilo Cubillas ( Peru 1970, 1978) và Miroslav Klose ( Đức, 2002–2006), Thomas Müller ( Đức, 2010–2014).
Khoảng thời gian dài nhất giữa hai bàn thắng
12 năm, Pelé ( Brasil, 1958–1970), Uwe Seeler ( Tây Đức, 1958–1970), Diego Maradona ( Argentina, 1982–1994), Michael Laudrup ( Đan Mạch, 1986–1998), Henrik Larsson ( Thụy Điển, 1994–2006), và Sami Al-Jaber ( Ả Rập Xê Út, 1994–2006). Miroslav Klose (Đức, 2002–2014).
Cầu thủ trẻ nhất ghi bản
17 tuổi và 239 ngày, Pelé ( Brasil, trong trận gặp Xứ Wales, 1958).
Cầu thủ trẻ nhất lập hat-trick
17 tuổi và 244 ngày, Pelé ( Brasil, trong trận gặp Pháp, 1958).
Cầu thủ trẻ nhất ghi bàn trong một trận chung kết
17 tuổi và 249 ngày, Pelé ( Brasil, trong trận gặp Thụy Điển, 1958).
Cầu thủ lớn tuổi nhất ghi bàn
42 tuổi và 39 ngày, Roger Milla ( Cameroon, trong trận gặp Nga, 1994).
Cầu thủ lớn tuổi nhất lập hat-trick
33 tuổi và 131 ngày, Cristiano Ronaldo ( Bồ Đào Nha, trong trận gặp Tây Ban Nha, 2018).
Cầu thủ lớn tuổi nhất ghi bàn trong một trận chung kết
35 tuổi và 263 ngày, Nils Liedholm ( Thụy Điển, trong trận gặp Brasil, 1958).
Bàn thắng nhanh nhất
11 giây, Hakan Şükür ( Thổ Nhĩ Kỳ, trong trận gặp Hàn Quốc, 2002).
Bàn thắng nhanh nhất khi được vào sân từ băng ghế dự bị
16 giây, Ebbe Sand ( Đan Mạch, trong trận gặp Nigeria, 1998).
Bàn thắng nhanh nhất trong một trận chung kết
90 giây, Johan Neeskens ( Hà Lan, trong trận gặp Tây Đức, 1974).
Bàn thắng nhanh nhất trong một trận vòng loại
8 giây, Davide Gualtieri ( San Marino, trong trận gặp Anh, 1994).
Bàn thắng muộn nhất
phút thứ 120+2, Abdelmoumene Djabou ( Algérie, trong trận gặp Đức, 2014).
Bàn thắng muộn nhất trong một chung kết
phút thứ 120, Geoff Hurst ( Anh, trong trận gặp Tây Đức, 1966).

Đội tuyển[sửa | sửa mã nguồn]

Tỉ số cách biệt nhất, 9 bàn

Khán giả: 18.000

Trọng tài: Pháp Raymond Vincenti


Tỉ số cách biệt nhất trong một trận vòng loại, 31 bàn

Úc  31–0  Samoa thuộc Mỹ
Boutsianis Bàn thắng 10'50'84'
Thompson Bàn thắng 12'23'27'29'33'37'42'45'56'60'65'
Zdrilic Bàn thắng 13'21'25'33'58'66'78'89'
A. Vidmar Bàn thắng 14'80'
Popovic Bàn thắng 17'19'
Colosimo Bàn thắng 51'81'
De Amicis Bàn thắng 55'
(chi tiết)
Đội ghi được nhiều bàn thắng nhất trong một trận, 10 bàn

Trận đấu có nhiều bàn thắng nhất, 12 bàn

Khán giả: 35.000

Trọng tài: Scotland Charlie Faultless
Trận hoà nhiều bàn thắng nhất, 8 bàn

Khán giả: 14.000

Trọng tài: Tây Đức Emil Schmetzer

Trận bán kết nhiều bàn thắng nhất, 8 bàn

Đội ghi được nhiều bàn thắng nhất trong một trận chung kết, 5 bàn

Trận chung kết có nhiều bàn thắng nhất, 7 bàn

Trận chung kết có ít bàn thắng nhất, 0 bàn

Nhiều cầu thủ nhất cùng ghi bàn cho một đội trong một trận đấu
7,  Nam Tư, trong trận gặp  Zaire, 1974 (Dušan Bajević, Dragan Džajić, Ivica Šurjak, Josip Katalinski, Vladislav Bogićević, Branko Oblak, Ilija Petković).
Nhiều cầu thủ nhất cùng ghi bàn cho một đội trong một kỳ World Cup
10,  Pháp, 1982 (Gérard Soler, Bernard Genghini, Michel Platini, Didier Six, Maxime Bossis, Alain Giresse, Dominique Rocheteau, Marius Trésor, René Girard, Alain Couriol) và  Ý, 2006 (Alessandro Del Piero, Alberto Gilardino, Fabio Grosso, Vincenzo Iaquinta, Filippo Inzaghi, Marco Materazzi, Andrea Pirlo, Luca Toni, Francesco Totti, Gianluca Zambrotta).

Giải đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Giải có nhiều vua phá lưới nhất
6, 1962[42]
Giải có số bàn thắng cao nhất
171 bàn, 1998, 2014
Giải có số bàn thắng ít nhất
70 bàn, 1930 và 1934.
Giải có tỉ lệ bàn thắng cao nhất mỗi trận
5.38 bàn một trận, 1954.
Giải có tỉ lệ bàn thắng thấp nhất mỗi trận
2.21 bàn một trận, 1990.
Giải có tất cả các đội bóng đều ghi được bàn thắng
ít nhất 2 bàn, 2018

Bàn thắng phản lưới nhà[sửa | sửa mã nguồn]

Giải đấu có nhiều bàn thắng phản lưới nhà nhất
12 bàn (2018)
Trận đấu có nhiều bàn thắng phản lưới nhà nhất
2,  Hoa Kỳ vs  Bồ Đào Nha, 2002 (Jorge Costa và Jeff Agoos).
Cầu thủ ghi bàn cho cả hai đội
Ernie Brandts ( Hà Lan, trong trận gặp Ý, 1978 – đốt lưới nhà vào phút thứ 18, ghi bàn vào phút thứ 50), Mario Mandžukić ( Croatia, trong trận gặp Pháp, 2018 – đốt lưới nhà vào phút thứ 18, ghi bàn vào phút thứ 69 trong Trận chung kết).
Phản lưới nhà ở trận chung kết
Tiền đạo Mario Mandžukić  Croatia trở thành cầu thủ đầu tiên phản lưới nhà ở trận chung kết World Cup trong Trận chung kết Giải vô địch bóng đá thế giới 2018.[38]

Phạt đền[sửa | sửa mã nguồn]

Giải vô địch bóng đá thế giới 2018 có tới 29 pha phạt đền, nhiều bàn thắng trên chấm phạt đền (22) và nhiều tình huống đá hỏng phạt đền nhất (7) trong lịch sử.[38]

Số trận giữ sạch lưới nhiều nhất
10, Peter Shilton ( Anh, 1982–1990) và Fabien Barthez ( Pháp, 1998–2006)
Khoảng thời gian giữ sạch lưới liên tục lâu nhất
517 phút, Walter Zenga ( Ý, 1990)
Để thủng lưới nhiều bàn nhất
25, Antonio Carbajal ( México) và Mohamed Al-Deayea ( Ả Rập Xê Út)
Để thủng lưới nhiều bàn nhất trong một kỳ World Cup
16, Hong Duk-Yung ( Hàn Quốc, 1954)
Để thủng lưới nhiều bàn nhất trong một trận
10, Luis Guevara Mora ( El Salvador), 1982 (trong trận gặp  Hungary)
Để thủng lưới ít bàn nhất trong một kỳ World Cup
0, Pascal Zuberbühler ( Thụy Sĩ, 2006)
Dẫn dắt nhiều trận nhất
25, Helmut Schön ( Tây Đức, 1966–1978).
Thắng nhiều trận nhất
16, Helmut Schön ( Tây Đức, 1966–1978).
Vô địch nhiều lần nhất
2, Vittorio Pozzo ( Ý, 1934–1938).
Tham dự nhiều giải nhất
5, Bora Milutinović (1986–2002) và Carlos Alberto Parreira (1982, 1990–1998, 2006).
Dẫn dắt nhiều đội nhất
5, Bora Milutinović ( México, 1986;  Costa Rica, 1990;  Hoa Kỳ, 1994;  Nigeria, 1998;  Trung Quốc, 2002).
Chuỗi trận thắng dài nhất
11, Luiz Felipe Scolari ( Brasil, 2002, 7 trận;  Bồ Đào Nha, 2006, 4 trận – Bồ Đào Nha "thắng" trận tiếp theo sau loạt sút luân lưu nên được tính như một trận hòa).
Chuỗi trận bất bại dài nhất
12, Luiz Felipe Scolari ( Brasil, 2002, 7 trận;  Bồ Đào Nha, 2006, 5 trận).
Huấn luyện viên trẻ tuổi nhất
27 tuổi và 267 ngày, Juan José Tramutola ( Argentina, 1930)
Huấn luyện viên lớn tuổi nhất
70 tuổi và 131 ngày, Cesare Maldini ( Paraguay, 2002)
Thay người nhanh nhất
Phút thứ 4, Cesare Maldini, cho Giuseppe Bergomi vào thay Alessandro Nesta ( Ý, trong trận gặp Áo, 1998); Sven-Göran Eriksson, cho Peter Crouch vào thay Michael Owen ( Anh, trong trận gặp Thụy Điển, 2006).
Vô địch nhiều lần nhất trên cả tư cách Huấn luyện viên lẫn cầu thủ
3, Mário Zagallo,  Brasil (1958 & 1962 với tư cách cầu thủ, 1970 với tư cách Huấn luyện viên)[43]
Tham gia nhiều trận chung kết nhất trên cả tư cách Huấn luyện viên lẫn cầu thủ
4, Mário Zagallo,  Brasil (1958 & 1962 với tư cách cầu thủ, 1970 & 1998 với tư cách Huấn luyện viên); Franz Beckenbauer,  Tây Đức (1966 & 1974 với tư cách cầu thủ, 1986 & 1990 với tư cách Huấn luyện viên)
Điều hành nhiều giải nhất
3, Jean Langenus (Bỉ Bỉ, 1930–1938), Ivan Eklind (Thụy Điển Thụy Điển, 1934–1950), Benjamin Griffiths (Wales Wales, 1950–1958), Arthur Ellis (Anh Anh, 1950–1958), Juan Gardeazábal (Tây Ban Nha Tây Ban Nha, 1958–1966), Jamal Al Sharif (Syria Syria, 1986–1994), Joël Quiniou (Pháp Pháp, 1986–1994), Ali Mohamed Bujsaim (Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất UAE, 1994–2002)
Điều hành nhiều trận nhất
8, Joël Quiniou (Pháp Pháp), 1986–1994
Điều hành nhiều trận nhất trong cùng một kỳ World Cup
5, Benito Archundia (México México), 2006, và Horacio Elizondo (Argentina Argentina), 2006
Trọng tài trẻ nhất
24 tuổi và 193 ngày, Juan Gardeazábal (Tây Ban Nha Tây Ban Nha, 1958)
Trọng tài lớn tuổi nhất
56 tuổi và 236 ngày, George Reader (Anh Anh, 1950)
Lượng khán giả đông nhất cho một trận chung kết World Cup
199.854, Uruguay gặp Brazil, 16 tháng 7 năm 1950, Maracanã Stadium, Rio de Janeiro, Brasil, World Cup 1950.
Lượng khán giả thấp nhất cho một trận tại vòng chung kết World Cup
300, Romania gặp Peru, 14 tháng 7 năm 1930, Estadio Pocitos, Montevideo, Uruguay, World Cup 1930.
Lượng khán giả đông nhất cho một trận vòng loại
162.764, Brasil gặp Colombia, 9 tháng 3 năm 1977, Maracanã Stadium, Rio de Janeiro, Brasil, World Cup 1978.
Lượng khán giả thấp nhất cho một trận vòng loại
0, Costa Rica gặp Panama, 26 tháng 3 năm 2005, Saprissa Stadium, San Juan de Tibás, Costa Rica, World Cup 2006.[44]
Lượng khán giả trung bình mỗi trận cao nhất
68.991, 1994.
Lượng khán giả trung bình mỗi trận thấp nhất
23.235, 1934.
  1. ^ “World Cup records tumble as Germany destroy Brasil 7–1”. The Guardian. Ngày 9 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2014. 
  2. ^ Đức luôn vượt qua vòng 1 từ khi thể thức đấu bảng được thiết lập, nhưng đội thua ở vòng 1 trận đấu loại trực tiếp tại giải năm 1938
  3. ^ Cú sút luân lưu thành công không được tính là bàn thắng
  4. ^ Đội vô địch giải năm 1930 là  Uruguay từ chối tham dự giải năm 1934, có 5 đội đương kim vô địch khác không vượt qua vòng 1 là:  Ý năm 1950 (thắng 1 thua 1),  Brasil năm 1966 (thắng 1 thua 2),  Ý năm 2010 (hòa 2 thua 1),  Tây Ban Nha năm 2014 (thắng 1 thua 2),  Đức năm 2018 (thua 2 thắng 1).
  5. ^  Ba Lan tại 1974 cũng thắng 6 trận, nhưng trong đó có một trận tranh hạng ba.
  6. ^ Một trận đấu được định đoạt được coi là một trận hòa
  7. ^ Chi tiết: Brasil năm 1970 thắng Anh (vòng bảng), Uruguay (bán kết) và Ý (chung kết). Ý năm 1982 thắng Argentina (vòng bảng thứ hai), Brasil (vòng bảng thứ hai) và Đức (chung kết). Argentina năm 1986 thắng Uruguay (vòng 1/16), Anh (tứ kết), và Đức (chung kết). Đức năm 2010 thắng Anh (vòng 1/16), Argentina (tứ kết) và Uruguay (tranh giải 3-4).
  8. ^ Chi tiết: Argentina thắng Nam Tư (vòng tứ kết) và Italia (bán kết). Croatia thắng Đan Mạch (vòng 1/16) và Nga (vòng tứ kết).
  9. ^ cụ thể: thắng  Cộng hòa Ireland, thua  Hàn Quốc
  10. ^ cụ thể: thắng  Hy Lạp, thua  Hà Lan
  11. ^ cụ thể: thắng  Costa Rica, thua  Argentina
  12. ^ cụ thể: thắng  Tây Ban Nha, thua  Croatia
  13. ^ cụ thể: thắng  Bỉ (vòng 1/8), thắng  Cameroon (vòng tứ kết) đều ở hiệp phụ, thua  Đức ở bán kết bằng những loạt sút luân lưu 11 mét.
  14. ^ cụ thể: thắng Đan Mạch (vòng 1/16) và Nga (vòng tứ kết) đều bằng những loạt sút luân lưu 11 mét, thắng Anh (vòng bán kết) ở hiệp phụ.
  15. ^ cụ thể: hòa cả ba trận vòng bảng và 1 trận vòng 1/8, sau đó lọt vào tứ kết nhờ thi đấu luân lưu 11 mét
  16. ^ cụ thể: hòa 3 thắng 4 trong đó có trận chung kết phải phân định thắng thua bằng những loạt sút luân lưu 11 mét
  17. ^ cụ thể: thắng 6 trận trong đó có trận tranh hạng 3, hòa 1 trận rồi thua ở những loạt đá luân lưu 11 mét
  18. ^ cụ thể: thắng 5 trận trong đó có trận tranh hạng 3, hòa 2 trong đó có 1 trận thắng và 1 trận thua đều bằng những loạt đá luân lưu 11 mét
  19. ^ cụ thể: thắng 4 trận liên tiếp, hòa trận tứ kết và chỉ bị đánh bại bởi những loạt sút luân lưu 11 mét
  20. ^ cụ thể: thắng 2 trận hòa 1 trận vòng bảng, thắng ở vòng 1/8 và hòa ở tứ kết, chỉ chịu dừng bước ở những loạt sút luân lưu 11 mét
  21. ^ cụ thể: thắng 2 trận hòa 1 trận ở vòng đấu bảng, thắng 1 trận vòng 1/8 và hòa trận tứ kết, chỉ chịu dừng lại bởi những loạt đá luân lưu 11 mét
  22. ^ cụ thể: thắng 3 trận vòng bảng, hòa 2 trận vòng knock out đều phải giải quyết bằng những loạt sút luận lưu 11 mét
  23. ^ cụ thể: đều thắng 2 trận hòa 1 trận ở vòng bảng, thắng 1 trận vòng 1/8 và hòa ở tứ kết, chỉ chịu thua ở những loạt sút luân lưu 11 mét
  24. ^ cụ thể: thắng 2 trận hòa 1 trận vòng bảng, hòa cả hai trận vòng knock out đều phải giải quyết bằng những loạt đá luân lưu 11 mét
  25. ^ cụ thể: thắng 2 trận hòa 1 trận vòng bảng, hòa 1 trận vòng knock out và bị thua ở những loạt đá luân lưu 11 mét
  26. ^ cụ thể là  Ý 2006,  Tây Ban Nha 2010,  Đức 2014,  Pháp 2018
  27. ^ cụ thể là  Ý gặp Tiệp Khắc 1934,  Ý gặp  Hungary 1938
  28. ^ cụ thể là  Ý gặp  Pháp 2006 và  Tây Ban Nha gặp  Hà Lan 2010
  29. ^ đều thua  Đức: các năm 2006 và 2010 ở vòng tứ kết, năm 2014 ở trận chung kết
  30. ^ đều thua  Đức ở bán kết
  31. ^ đều thua  Brasil: năm 1994 ở tứ kết, năm 1998 ở bán kết
  32. ^ đều thua  Argentina ở vòng 1/8
  33. ^ năm 1990 thua  Argentina ở bán kết, năm 1994 thua  Brasil ở trận chung kết và năm 1998 thua  Pháp ở vòng tứ kết
  34. ^ Không tính với tư cách là nước chủ nhà, với tư cách là đương kim vô địch, hay là khách mời.
  35. ^ Pelé, Lothar Matthäus, Pierre Littbarski và Ronaldo cùng ba lần co tên trong danh sách thi đấu ở trận chung kết, nhưng tất cả các cầu thủ trên đều có tối thiểu một lần không được tung vào sân.
  36. ^ a ă â b “Những “kỳ tích” đáng nhớ qua các mùa World Cup”. 
  37. ^ Báo cáo chính thức của FIFA ghi cầu thủ sinh năm 1987, nhưng một số tài liệu ghi anh sinh năm 1985, nghĩa là anh 15 tuổi và 310 ngày vào thời điểm trận đấu diễn ra.
  38. ^ a ă â b “Những kỷ lục đáng chú ý ở World Cup 2018”. 
  39. ^ Theo nguồn của "FIFA World Cup Superlatives: Players", FIFA report, Taylor còn thi đấu một trận nữa sau trận này, cung gặp St. Kitts và Nevis vào ngày 31 tháng 3 năm 2004, tức là phá vỡ kỷ lục cũ của anh thành 46 tuổi và 222 ngày.
  40. ^ Communications Division (27 tháng 7 năm 2007). “History of the FIFA World Cup Preliminary Competition (by year)” (PDF). Good to Know. FIFA. tr. 42. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2009. 
  41. ^ Chỉ tính các đội lọt tối thiểu đến vòng bán kết tức thi đấu số trận tối đa của giải.
  42. ^ cụ thể: Brasil Garrincha, Brasil Vavá, Chile Leonel Sánchez, Hungary Flórián Albert, Liên Xô Valentin Ivanov, Cộng hòa Liên bang Xã hội chủ nghĩa Nam Tư Dražan Jerković
  43. ^ Zagallo cũng vô địch giải năm 1994 cùng Brasil trong vai trò trợ lý Huấn luyện viên trưởng.
  44. ^ Reuters. “Costa Rica fans banned after violence”. ESPN Soccernet. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2007. 
10593-k-l-c-gi-i-v-ch-b-ng-th-gi-i-la-gi.txt · Last modified: 2018/11/07 17:08 (external edit)