User Tools

Site Tools


10561-l-nh-ho-ng-qu-phi-la-gi

Hiếu Nghi Thuần Hoàng hậu (tiếng Hán: 孝儀純皇后, tiếng Mãn: ᡥᡳᠶᠣᠣᡧᡠᠩᡤᠠ
ᠶᠣᠩᠰᠣᠩᡤᠣ
ᠶᠣᠩᡴᡳᠶᠠᡥᠠ
ᡥᡡᠸᠠᠩᡥᡝᠣ
,tiếng Mãn Châu:hiyoošungga yongsonggo yongkiyaha hūwangheo,thái thanh:hiyouxungga yongsonggo yongkiyaha hvwangheu; 23 tháng 10, năm 1727 – 28 tháng 2 năm 1775), còn được biết đến dưới danh hiệu Lệnh Ý Hoàng quý phi (令懿皇貴妃), là một phi tần của Thanh Cao Tông Càn Long Đế. Bà là sinh mẫu của Thanh Nhân Tông Gia Khánh Đế.

Trong lịch sử hậu cung, Lệnh Ý Hoàng quý phi là phi tần sinh nhiều con nhất cho Càn Long Đế và con số này cũng thuộc hàng nhiều nhất nếu so với một số hậu phi khác của nhà Thanh. Bà chưa từng được phong Hoàng hậu khi còn sống, danh phận cao nhất của bà là Hoàng quý phi. Sau này con trai bà được chọn làm Trữ quân, với tư cách là sinh mẫu của Tân đế, bà được truy phong làm Hoàng hậu.

Hiếu Nghi Thuần Hoàng hậu Ngụy Giai thị

Hiếu Nghi Thuần Hoàng hậu, Ngụy Giai thị, Mãn Châu Tương Hoàng kỳ, nhưng thực chất bà nguyên là Ngụy thị, xuất thân từ "Chính Hoàng kỳ Bao y quản lĩnh hạ nhân" (正黃旗包衣管領下人), thuộc tầng lớp Bao y nô bộc chuyên hầu hạ hoàng thất Mãn Châu. Bà sinh ngày 9 tháng 9 (âm lịch) vào năm Ung Chính thứ 5 (tức ngày 23 tháng 10 năm 1727). Dòng họ bà sau đó được con trai bà, Gia Khánh Đế theo truyền thống đưa vào Mãn Châu Tương Hoàng kỳ, nâng kỳ thành Ngụy Giai thị của người Mãn Châu[1].

Cứ theo Bát Kỳ Mãn Châu thị tộc tông phổ (八旗滿洲氏族通譜), Hiếu Nghi Thuần Hoàng hậu vốn xuất thân từ dòng họ Thẩm Dương Ngụy thị (瀋陽魏氏), nhưng cứ liệu chi tiết cũng còn mơ hồ. Có một ít tư liệu chứng minh, tổ tiên Ngụy thị vốn là bộ hạ của Tam Phiên Cảnh thị (三藩耿氏), Tam Phiên Cảnh thị có 7 chức Tá lĩnh, 2 cũ 5 mới, trong đó có Tân Tá lĩnh tên Ngụy Quốc Hiền (魏國賢), là tổ 4 đời của Ngụy thị. Mà chi họ của Ngụy Quốc Hiền ở Thanh sơ cải thành Chính hoàng kỳ Bao y, thuộc Tân Giả khố.

Đến thời trung kì Ung Chính, gia tộc Ngụy thị đã đạt đến hàng giai cấp tầm trung đẳng trong nhóm quan lại Bao y thuộc Nội Vụ phủ. Tằng tổ phụ là tặng Hộ trường quân đội Ngụy Tự Hưng (魏嗣兴), tằng tổ mẫu Trần thị; nội tổ phụ Tổng quản Nội Vụ phủ đại thần Ngụy Võ Sĩ Nghi (魏武士宜), sơ nhậm Nội Quản lĩnh, có hai vợ là Niên thị và Triều thị. Tuy Võ Sĩ Nghi làm chức Nội Vụ phủ Tổng quản khá ngắn, nhưng có thể leo lên được vị trí như vậy, chứng minh khi đó vị thế của gia tộc Ngụy thị cũng thuộc hàng có căn cơ và danh vọng lớn trong nhóm quan viên Nội Vụ phủ. Cha bà là Ngụy Thanh Thái (魏清泰), người Giang Tô, giữ chức Nội quản lĩnh (内管领), mẹ là Dương Giai thị, từng cùng tổ mẫu của Ngụy thị là Niên thị đảm nhiệm tuyên sách bảo văn nữ quan. Bên cạnh đó, chú bác trong họ nhà bà, thời kì Ung-Càn đều là quan viên trung cấp của Nội Vụ phủ, bà còn có người anh em trai tên Ngụy Đức Hinh (魏德馨).

Như vậy tổng quan mà nói, Nguỵ thị xuất thân Bao y, là tầng lớp nô bộc phục vụ hoàng thất Mãn Châu. Khi đến tuổi trưởng thành, nhờ lệ thuộc Nội vụ phủ nên có thể đã lấy thân phận cung nữ nhập cung, cùng với đợt Nội Vụ phủ Tuyển tú. Xét đến vấn đề này, "Bát Kỳ tuyển tú" là lựa chọn con nhà quan chức, xuất thân từ Bát Kỳ cao quý, được chỉ hôn cho nam giới hoàng thất hoặc nạp vào làm phi tần, nên với thân phận là Nội vụ phủ Bao y nữ tử, Ngụy thị về ngay từ ban đầu không được lấy thân phận tú nữ tham gia ứng tuyển phi tần.

Nhập cung[sửa | sửa mã nguồn]

Theo những ngự chế thơ của Càn Long Đế đề cập, Ngụy thị chịu sự giáo dục của Hiếu Hiền Thuần Hoàng hậu.

Thực tế, cụm từ giáo dục này có hàm nghĩa bao la, vì Hoàng hậu là hậu cung chi chủ, thống soái của toàn bộ nội, ngoại mệnh phụ, nên trên thực tế quyền hành bao quát, chỉ điểm bất kì ai cũng có thể xưng là giáo dục. Dựa theo những gì có được, Ngụy thị chưa chắc ngay từ đầu đã được Hiếu Hiền Thuần Hoàng hậu trực tiếp quản lý, nhưng dựa vào gia thế trong Nội Vụ phủ Bao y, tổ phụ của gia đình bà được nhậm những chức quan quan trọng, cũng như anh em chú bác đều là quan viên Nội Vụ phủ tầm trung, có thể thấy tuy là thân phận cung nữ, nhưng Ngụy thị cũng có gia thế nhất định trong các nữ tử Bao y. Do vậy, có lẽ Ngụy thị không thể nào theo hầu một phi tần cấp thấp hoặc làm công việc hèn mọn, nên có thể là thân cận do đích thân Hiếu Hiền Thuần Hoàng hậu chỉ bảo.

Năm Càn Long thứ 10 (1745), Ngụy thị trở thành Quý nhân. Ngày 23 tháng 1, Càn Long Đế đại phong hậu cung, trong đó Ngụy Quý nhân được phong Tần, thuộc hàng Chính tứ phẩm trong hệ thống hậu cung[2]. Ngày 17 tháng 11 năm ấy, lấy Công bộ Thượng thư Đạt Ha (達哈) làm Chính sứ, Nội các Học sĩ Ngũ Linh An (伍齡安) làm Phó sứ, hành sách phong lễ phong Tần, phong hiệu là Lệnh tần (令嫔)[3].

Sách văn:

Phong hiệu Lệnh (令), căn cứ Hồng xưng thông dụng (鴻稱通用) của Nội vụ phủ soạn thảo, theo Mãn ngữ có âm rằng 「Mergen」, nghĩa là "Thông tuệ", "Sáng suốt".

Phong phi[sửa | sửa mã nguồn]

Năm thứ 13 (1748), ngày 1 tháng 7, đại phong hậu cung, trong đó Lệnh tần Ngụy thị được phong làm Lệnh phi (令妃). Năm sau (1749), ngày 5 tháng 4, lấy Lại bộ thượng thư Trần Đại Thụ (陳大受) làm Chính sứ, Lễ bộ Thị lang Mộc Hòa Lâm (木和林) làm Phó sứ, hành sách phong lễ[4]. Cũng trong dịp này, Nhàn Quý phi Na Lạp thị trở thành "Hoàng quý phi Nhiếp lục cung sự", về sau chính là Kế Hoàng hậu.

Năm thứ 21 (1756), ngày 21 tháng 4, Lệnh phi do mang thai nên thêm than, sang ngày 26 thêm nhũ mẫu, đến ngày 4 tháng 6, cho thêm đại phu[5]. Ngày 15 tháng 7, sinh hạ Thất công chúa, tức Cố Luân Hòa Tĩnh công chúa tại Ngũ Phúc đường ở Viên Minh Viên.

Không lâu sau, năm thứ 22 (1757), ngày 26 tháng 5, Lệnh phi do mang thai nên thêm than, ngày 27 thêm đại phu, đến 11 tháng 6 thêm nhũ mẫu[6]. Ngày 17 tháng 7, buổi trưa, hạ sinh Hoàng thập tứ tử Vĩnh Lộ, tuy nhiên Hoàng tử qua đời khi mới được 3 tuổi. Sang năm thứ 23 (1758), ngày 14 tháng 7, giờ Tuất, Lệnh phi lại tiếp tục sinh Hoàng cửu nữ, tức Hòa Thạc Hòa Khác công chúa. Có thể thấy đây là giai đoạn sinh nở liên tục nhất của bà.

Năm thứ Càn Long 24 (1759), Lệnh phi mang thai, ngày 10 tháng 6 được gia tăng than sưởi, phân bổ thái y và bà đỡ túc trực. Ngày 22 tháng 6, nữ tử học quy củ chỗ Lệnh phi phong Thụy Thường tại. Ngày 24 tháng 9, tất cả các đãi ngộ trên bị đình chỉ, nguyên do Lệnh phi vì dạy dỗ quy củ quá độ sảy thai. Ngày 21 tháng 11 cùng năm, ra chỉ dụ Lệnh phi Ngụy thị được thăng làm Lệnh Quý phi (令貴妃). Ngày 17 tháng 12 cùng năm, lấy Đại học sĩ Phó Hằng làm Chính sứ, Hiệp bạn Đại học sĩ Lưu Thống Huân (劉統勛) làm Phó sứ, hành Quý phi sách phong lễ[7].

Theo truyền thống của Càn Long Đế, khi ông sắc phong Quý phi thì sẽ ra chỉ dụ tế cáo Thái miếu (như đã làm với Nhàn Quý phi, Thuần Quý phi[8], Gia Quý phi[9]), nhưng đến khi ra chỉ dụ sắc phong Lệnh phi làm Quý phi thì miễn không cử hành[10]. Ngược lại vào năm Càn Long thứ 33 (1768), Khánh Quý phi được sắc phong, Càn Long Đế vẫn ra chỉ dụ Tế cáo Thái miếu[11].

Năm Càn Long thứ 25 (1760), ngày 6 tháng 10, giờ Sửu, sinh được Hoàng thập ngũ tử Vĩnh Diễm, tức Thanh Nhân Tông. Năm thứ 27 (1762), ngày 30 tháng 11, sinh Hoàng thập lục tử, nhưng Hoàng tử chết yểu do bệnh đậu mùa khi mới 2 tuổi.

Tấn phong Hoàng quý phi[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Càn Long thứ 30 (1765), tháng 1, bà được theo hầu Càn Long Đế và Kế Hoàng hậu Ô Lạt Na Lạp thị đi tuần du phía nam sông Dương Tử, Thái Sơn, và Nhiệt Hà, xuyên qua các vùng Dương Châu, Tô Châu, Giang Ninh và Hàng Châu. Đi theo còn có Khánh phi Lục thị, Dung tần Hòa Trác thị, Vĩnh Thường tại Uông thị và Ninh Thường tại. Tháng 2 năm đó, cả đoàn Nam tuần đi đến Hàng Châu, sang ngày 18 tháng 2 thì Kế Hoàng hậu Na Lạp thị đột ngột xảy ra chuyện, muốn cắt tóc nguyện đi tu. Đế - Hậu gặp chuyện, đoàn Nam tuần cũng bị đình chỉ mà trở về Bắc Kinh ngay. Ngày 9 tháng 5 cùng năm, Hoàng đế ra chỉ dụ tấn phong Hoàng quý phi.

Ngày 11 tháng 6 cùng năm, lấy Đại học sĩ Phó Hằng làm Chính sứ, lấy Hiệp bạn Đại học sĩ Lễ bộ Thượng thư Trần Hoành Mưu (陳宏謀) làm Phó sứ, tuyên phong Lệnh Quý phi Ngụy thị làm Hoàng quý phi, sau đó Càn Long Đế sai quan tế cáo Thái miếu, Phụng Tiên điện[12].

Sách văn rằng:

Năm Càn Long thứ 31 (1766), ngày 11 tháng 5, Ngụy thị hạ sinh Hoàng thập thất tử Vĩnh Lân.

Từ khi Hiếu Hiền Thuần Hoàng hậu bạo băng, Kế Hoàng hậu thất sủng rồi băng thệ, các vị Triết Mẫn Hoàng quý phi, Tuệ Hiền Hoàng quý phi, Thuần Huệ Hoàng quý phi và Thục Gia Hoàng quý phi cũng lần lượt hoăng thệ, Ngụy thị là ở vị thế Chính nhất phẩm Hoàng quý phi mà trở thành phi tần có tước vị cao nhất, đứng đầu hậu cung hơn 10 năm, đồng thời là Hoàng quý phi tại vị cuối cùng dưới thời Càn Long.

Theo thông lệ thường thấy của Kế Hoàng hậu, Hiếu Hòa Duệ Hoàng hậu, Hiếu Toàn Thành Hoàng hậu, thì đáng lẽ sau 3 năm mãn tang, Ngụy thị có thể trở thành Hoàng hậu, nhưng đến cuối đời cũng chỉ ở danh vị Hoàng quý phi.

Năm Càn Long thứ 40 (1775), ngày 29 tháng 1 (âm lịch), Hoàng quý phi Ngụy thị qua đời tại Cát An sở (吉安所)[14], năm đó 47 tuổi. Để tránh làm phiền Thái hậu, Càn Long Đế không nói chuyện Hoàng quý phi mất[15].

Càn Long Đế ngừng triều 5 ngày để tang, phái Hoàng lục tử Vĩnh Dung, Hoàng bát tử Vĩnh Tuyền, Hoàng thập nhị tử Vĩnh Cơ, Hoàng thập ngũ tử Vĩnh Diễm, hoàng tôn Miên Đức, Miên Ức, Miên Huệ, Hoàng cửu nữ Hòa Thạc Hòa Khác công chúa, các Ngạch phò Lạp Vượng Đa Nhĩ Tế, Trát Lan Thái và Đan Ba Đa Nhĩ Tế mặc tang phục. Còn phái Thượng thư Vĩnh Quý, Tổng quản nội vụ phủ đại thần Kim Giản cùng quản lý lễ tang[16].

Ngày 5 tháng 2, tạm an ở Tĩnh An trang[17]. Ngày 11 tháng 2, lấy Giản thân vương Phong Nột Hanh (豐訥亨) làm Chính sứ, Hiệp bạn Đại học sĩ Lại bộ Thượng thư Quan Bảo (官保) làm Phó sứ, sách văn ban thụy hiệu là Lệnh Ý Hoàng quý phi (令懿皇貴妃)[18]. Thụy hiệu "Ý", Mãn văn là 「Fujurungga」, nghĩa là "Đoan trang", "Có phong độ". Những ngày Hành sơ nghi thức tế lễ, Hành đại nghi thức tế lễ, Hành trăm ngày nghi thức tế lễ, đều do con trai bà Vĩnh Diễm cử hành[19].

Ngày 23 tháng 10, giờ Thìn, phụng an Dụ lăng[20]. Theo Thanh Cao Tông ngự chế thi (清高宗御制诗), có bài Hiếu Hiền hoàng hậu lăng lỗi tửu (孝賢纯皇后陵酹酒), có ghi qua khi nói về Lệnh Ý Hoàng quý phi rằng:

Cựu nhật ngọc thành lữ, y nhiên thân bàng bồi; 旧日玉成侣,依然身傍陪; nghĩa là Ngày trước được Hoàng hậu tiến cử, vậy như cũ bồi hầu nàng」, phần chú thích thêm rằng: (Chú: Lệnh Ý Hoàng quý phi trước được Hoàng hậu dạy dỗ, nay cũng cho phụ địa cung; 注: 令懿皇贵妃为皇后所教养者,今并附地宫).

Trong Hoàng triều văn điển (皇朝文典), lại có bài tế văn dành cho Hiếu Hiền hoàng hậu khi phụng táng kim quan của Lệnh Ý Hoàng quý phi, đó là:

Tích niên tham cận ngự chi ban, tằng tư hối địch; thử nhật thị thăng tiên chi giá, như phụng sinh tồn; 昔年参近御之班,曾资悔迪;此日侍升仙之驾,如奉生存; nghĩa là Năm đó (Lệnh Ý Hoàng quý phi) hầu cận ngự nàng (Hiếu Hiền hoàng hậu), được nàng giáo dục; Nay phụng vào bên cạnh nàng, hi vọng cũng như khi nàng còn sống, phụng dưỡng linh hồn nàng trên trời có linh thiêng[21].

Sách văn thụy hiệu cho Lệnh Ý Hoàng quý phi rằng:

Bà là người thứ 5 và cũng là người cuối cùng được phụ táng cùng với Càn Long Đế tại địa cung, nằm ở phía bên phải Đế quan của Hoàng đế. Đặc biệt, Càn Long Đế còn ra lệnh tăng lượng văn vật bồi táng thêm 18 kiện so với đãi ngộ thông thường cho bà[23]. Một số hiểu lầm cho rằng, đãi ngộ của bà đã tăng so với mức Hoàng quý phi (cơ bản là 58 kiện)[24], biến con số tổng thành 76 kiện, chỉ kém 1 kiện so với Hoàng hậu, nhưng thực tế căn cứ theo ghi chép của Thanh đại cô bổn nội các lục bộ đương án tục biên (清代孤本内阁六部档案续编) vào ngày 18 tháng 10 (âm lịch) năm đó, tổng số kiện bồi táng theo Lệnh Ý Hoàng quý phi là 58 kiện sau khi đã tăng thêm[25], điều đó có nghĩa về cơ bản đãi ngộ bồi táng của bà chỉ là 40 kiện, bằng với mức bình thường của một Quý phi thời nhà Thanh[26], số lượng kiện đó có thể chứng minh qua số kiện vật của Khánh Cung Hoàng quý phi (khi đó là Khánh Quý phi) chỉ có 40 kiện[27].

Càn Long Đế tư niệm Lệnh Ý hoàng quý phi, viết một bài thơ gọi là Lệnh Ý hoàng quý phi vãn thi (令懿皇贵妃挽诗), trong đó viết:

Truy phong Hoàng hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Càn Long thứ 60 (1795), ngày 3 tháng 9, Càn Long tuyên bố Vĩnh Diễm là Hoàng thái tử. Lệnh Ý hoàng quý phi, do là sinh mẫu của Thái tử, truy phong Hoàng hậu, thụy hiệu Hiếu Nghi (孝儀). Thụy hiệu "Nghi" này, do bị đổi từ "Ý" để tránh trùng với Hiếu Ý Nhân Hoàng hậu. Theo Mãn văn, Nghi là 「Yongsunggo」, có nghĩa là "Có lễ độ", so với thụy hiệu "Ý" ban đầu thì hoàn toàn kém hơn rất nhiều.

Ngày 13 tháng 10 cùng năm, Thái tử Vĩnh Diễm kế vị, Càn Long Đế trở thành Thái Thượng hoàng. Ngày 27 tháng 10, lấy Duệ Thân vương Thuần Dĩnh (淳頴) làm Chính sứ, Trịnh Thân vương Ô Nhĩ Cung A (烏爾恭阿) làm Phó sứ, vào lăng của Hiếu Hiền Thuần Hoàng hậu tế trước, tuyên cáo sách thụy cho Lệnh Ý Hoàng quý phi làm Hiếu Nghi Thuần Hoàng hậu.

Sách văn rằng:

Theo ân điển của một Hoàng hậu được truy phong, Thần vị của bà nên có ở Thái miếu, và cử hành nghi lễ tế cáo đất trời, nhưng cuối cùng thần vị của bà chỉ được để ở điện Phụng Tiên, chứ không được đưa vào Thái miếu. Sự việc này ghi lại trong Thanh Cao Tông thực lục: "Càn Long năm thứ sáu mươi.Thái thường tự tấu vào tháng 12 này, Hiếu Nghi Hoàng hậu thần bài nên theo lệ nên tế cáo trời đất, Thái miếu. Trước một ngày cần bẩm báo phủ Tông Nhân để chọn Thân vương tế cáo. Nhưng Hoàng thượng hạ chỉ không cần cử hành"[29]. Rõ ràng, các đại thần quan viên đều đề nghị nên tế cáo Thái Miếu, vì đó là quyền lợi của một Hoàng hậu được truy phong, nhưng Càn Long Đế lại đình chỉ không làm.

Về việc bị hủy tế cáo Thái miếu, lý do của Càn Long Đế được ghi trong Thực lục: "Ngày Ất Mão tháng mười năm Càn Long thứ 60. Kỷ Hợi: Chỉ dụ Hoàng thái tử, Hoàng tử, quân cơ đại thần rằng: Quốc triều điển lễ, coi trọng nhất là tế thần. Hiếu Nghi Thuần Hoàng hậu, do sinh được Trữ quân (tức Thái tử), đã được ân điển sách tặng. Trước đã tế cáo Phụng Tiên điện, nếu tế Thái Miếu, thiên địa nữa thì rất phiền hà. Vậy nên không cần cử hành"[30]. Sau khi Càn Long Đế qua đời, Gia Khánh Đế mới đưa bài vị của sinh mẫu vào Thái Miếu.

Đối đãi của gia tộc[sửa | sửa mã nguồn]

Theo truyền thống nhà Thanh, gia tộc của Ngụy thị được nâng kỳ thành Mãn Châu Tương Hoàng kỳ, đổi gọi Ngụy Giai thị.

Vào năm Càn Long thứ 16, khi đã là Lệnh phi, Ngụy Giai thị mới được sửa thiện đãi, nâng toàn gia làm Bao y Tá lĩnh[31]. Trong khi đó, Nghi tần Hoàng thị cũng xuất thân Bao y Quản lĩnh, nhưng vừa phong Tần đã được nâng lên Tá lĩnh[32], Thuần phi Tô thị xuất thân Giang Nam Hán nữ, vốn là bình dân, thấp kém hơn Ngụy Giai thị rất nhiều nhưng vừa phong Phi đã được nhập Bao y Tá lĩnh. Ngoài ra, Di tần Bách thị, Khánh tần Lục thị cũng mới phong Tần đã được nhập Bao y Tá lĩnh[33][34].

Càn Long năm thứ 60, từ khi Ngụy Giai thị trở thành Hiếu Nghi Thuần Hoàng hậu, Càn Long Đế lấy lý do Ngụy Giai thị chỉ là "hầu cận Hiếu Hiền Thuần Hoàng hậu", nên gia tộc họ Ngụy cho tập thế tước truyền đời chỉ là Nhất đẳng Hầu (一等侯)[35], trong khi đó các ngoại thích khác theo truyền thống đều có tập tước là Nhất đẳng công. Cha của Ngụy thị là Ngụy Thanh Thái, vốn không có phong thụy, sau do Lễ bộ dâng chỉ, Càn Long Đế mới cho truy tặng làm "Tam đẳng Thừa Ân công" (三等承恩公), còn Dương Giai thị tặng làm Nhất phẩm Phu nhân (一品夫人)[36]. Em trai Ngụy Giai thị là Đức Hinh, cùng con cháu lúc này mới chính thức được thiện đãi, nhưng cũng chỉ là thế chức Tá lĩnh truyền đời.

Qua các đời Gia Khánh và Đạo Quang, thụy hiệu đầy đủ của Ngụy Giai thị là: Hiếu Nghi Cung Thuận Khang Dụ Từ Nhân Đoan Khác Mẫn Triết Dực Thiên Dục Thánh Thuần Hoàng hậu (孝儀恭順康裕慈仁端恪敏哲翼天毓聖純皇后).

Nhìn nhận về quan hệ với Càn Long[sửa | sửa mã nguồn]

Sách Thanh sử cảo phần liệt truyện về Ngụy Giai thị không cho rằng Lệnh phi là người được Hoàng đế "sủng ái", vì các hậu phi nếu có thì đều ghi (như trường hợp của Hiếu Hiền Thuần hoàng hậu của Càn Long Đế, Nghi phi của Khang Hi Đế đều có khẳng định là sủng ái). Hoặc điển hình là việc Càn Long Đế đối với các lễ sách lập của Ngụy Giai thị đều bỏ qua những nghi lễ quy định, làm qua loa, hay lúc bà được truy phong Hoàng hậu, ông cũng lấy lí do là "bồi hầu Hiếu Hiền Thuần Hoàng hậu phụ địa cung", và đỉnh điểm nhất chính là việc bà lên ngôi Hoàng quý phi 10 năm mà chưa từng được phong làm Hoàng hậu.

Qua đây, có thể thấy, việc Càn Long Đế đối với Lệnh Ý Hoàng quý phi sủng ái thực sự có nhiều vấn đề, có lẽ vì được Hiếu Hiền Thuần Hoàng hậu đãi ngộ, bà mới có cơ hội trở thành Hậu cung phi tần của Càn Long. Cũng có nhiều nhận định cho rằng, vì duyên cớ của Hiếu Hiền Thuần Hoàng hậu, Càn Long Đế mới cất nhắc bà, cho thấy ông đối với bà chỉ là nghĩa, khó là tình.

Ngoài những nhận định trên, việc Thanh Cao Tông Kế Hoàng hậu Ô Lạp Na Lạp thị lúc chưởng quản hậu cung được sắc phong Hoàng quý phi Nhiếp lục cung sự (皇贵妃摄六宫事), chiếu cáo thiên hạ, tế ở Thái miếu, danh vị độc nhất vô nhị, là một "Lâm thời Hoàng hậu", vì tất cả quy cách đều phỏng theo Hoàng hậu điển lễ mà cử hành. Thế nhưng, Ngụy Giai thị lúc cai quản lục cung, danh vị cũng là Hoàng quý phi nhưng lại không hề được ban phong hiệu trên, thực sự cho thấy Càn Long Đế vốn không có ý định lập bà trở thành Hoàng hậu. Cũng như Mark C.Elliot đánh giá:"Chẳng qua là cho người mẹ quá cố của Tân hoàng đế một danh phận".

Về cơ bản, Càn Long Đế đối với Ngụy Giai thị, rằng bà có nhiều con và là sinh mẫu của Gia Khánh Đế, chứ không có đặc biệt thiên vị nào cả.

Khoảng 16 năm sau khi Thanh triều diệt vong (tháng 7, 1928), quân phiệt Tôn Điện Anh tổ chức khai quật mộ Càn Long Đế và Từ Hi Thái hậu để vơ vét châu báu. Biết được việc này, cựu hoàng là Phổ Nghi lệnh cho bọn Tái Trạch, Kỳ Linh, Bảo Hy đến quần thể Thanh Đông lăng xem xét. Trong quá trình đó, người ta phát hiện ở góc phía tây của địa cung Dụ lăng có di thể của một phụ nữ còn đầy đủ da thịt, không bị thối rửa. Căn cứ theo sử sách thì trong địa cung ngoài Càn Long Đế thì có 2 vị Hoàng hậu là Hiếu Hiền Thuần Hoàng hậu và Hiếu Nghi Thuần Hoàng hậu cùng 3 vị Hoàng quý phi là Triết Mẫn Hoàng quý phi, Tuệ Hiền Hoàng quý phi và Thục Gia Hoàng quý phi là được hợp táng. Qua quá trình xác minh, người ta xác định thi hài nói trên chính là ngọc thể của Hiếu Nghi Thuần Hoàng hậu[38][39].

Bảo Hy, Tổng quản phủ Nội vụ ghi nhận trong "Đông lăng nhật ký":

Quan tài đặt trên thạch sàng nằm ở giữa gian phòng phía Tây có phát hiện ngọc thể của một vị phi tần. Ngọc thể may mắn không hề phân hủy, người nằm trong quan tài có nét mặt sang quý, cằm nhiều nếp nhăn, răng chưa rụng hết, tựa như người 50-60 tuổi, xương và da đều còn nguyên vẹn, không chút hư tổn, nụ cười phúc hậu tựa như Bồ Tát. Đây quả thực là chuyện vô cùng kỳ lạ[40]...

Bà đã sinh cho Càn Long Đế tổng cộng 6 người con, 4 Hoàng tử và 2 Hoàng nữ. Đó là:

  1. Cố Luân Hòa Tĩnh Công chúa [固伦和静公主, 10 tháng 8 1756 – 9 tháng 2 1775], Hoàng nữ thứ 7 của Càn Long, tháng 7 năm 1770 hạ giá lấy Mông Cổ Siêu Dũng Thân vương Lạp Vượng Đa Nhĩ Tể (拉旺多尔济), cháu của Sách Lăng (策棱). Là công chúa thứ xuất (Hoàng Thứ nữ do phi tần sinh ra) nhưng lại đặc biệt được phong làm Cố Luân Công chúa (Hoàng Đích nữ do Hoàng hậu sinh ra), thông thường các Hoàng nữ được chọn gả xa đều được đặt cách như thế này.
  2. Vĩnh Lộ [永璐, 31 tháng 8, 1757 – 3 tháng 5, 1760], Hoàng tử thứ 14 của Càn Long Đế, không có truy phong. Táng phụ vào mộ của Thập tam a ca Vĩnh Cảnh, là con trai út của Kế Hoàng hậu, trong lăng mộ của Đoan Tuệ Hoàng thái tử Vĩnh Liễn [41].
  3. Hòa Thạc Hòa Khác Công chúa [和硕和恪公主; 17 tháng 8 1758 – 14 tháng 12 1780], Hoàng nữ thứ 9 của Càn Long Đế, tháng 9 năm 1772 hạ giá lấy Ô Nhã Trát Lan Thái (烏雅札蘭泰). Là công chúa thứ xuất (Hoàng Thứ nữ do phi tần sinh ra) nên chỉ có danh phận Hoà Thạc Công chúa. Công chúa bị Càn Long vô cùng xem nhẹ và thất sủng.
  4. Hoàng thập ngũ tử Vĩnh Diễm [永琰], tức Thanh Nhân Tông Gia Khánh Đế, Hoàng tử thứ 15 của Càn Long Đế, từ nhỏ đã được giao cho Khánh Cung Hoàng quý phi Lục thị nuôi dưỡng.
  5. Hoàng thập lục tử [皇十六子; 13 tháng 1, năm 1763 – 6 tháng 5, năm 1765], Hoàng tử thứ 16 của Càn Long Đế, không có truy phong. Táng phụ vào mộ của Thập tam a ca Vĩnh Cảnh, là con trai út của Kế Hoàng hậu, trong lăng mộ của Đoan Tuệ Hoàng thái tử Vĩnh Liễn
  6. Khánh Hi Thân vương Vĩnh Lân [永璘, 17 tháng 6 1766 – 25 tháng 4 1820], Hoàng tử thứ 17 và là con trai út của Càn Long Đế, do Dĩnh quý phi nuôi dưỡng, được phong Bối lặc năm 1789, được phong Khánh Quận vương (慶郡王) năm 1799, được phong Khánh Thân vương (慶親王) năm 1820 nhưng mất cùng vào năm đó.

Trong tiểu thuyết Hậu Cung Như Ý Truyện của Lưu Liễm Tử - Nguỵ Yến Uyển

  1. ^ 《清史稿列传一·后妃》孝仪纯皇后,魏佳氏,内管领清泰女。事高宗为贵人。封令嫔,累进令贵妃。乾隆二十五年十月丁丑,仁宗生。三十年,进令皇贵妃。四十年正月丁丑,薨,年四十九。谥曰令懿皇贵妃,葬胜水峪。六十年,仁宗立为皇太子,命册赠孝仪皇后。嘉庆、道光累加谥,曰孝仪恭顺康裕慈仁端恰敏哲翼天毓圣纯皇后。后家魏佳氏,本汉军,抬入满洲旗。子四:永璐,殇;仁宗;永璘;其一殇,未命名。女二,下嫁拉旺多尔济、札兰泰。
  2. ^ 清实录乾隆朝实录卷之二百三十三 乾隆十年。...乙未。谕、朕奉皇太后懿旨。贵妃诞生望族。佐治后宫。孝敬性成。温恭素著。著晋封皇贵妃。以彰淑德。娴妃、纯妃、愉嫔、魏贵人。奉侍宫闱。慎勤婉顺。娴妃、纯妃、俱著晋封贵妃。愉嫔、著晋封为妃。魏贵人、著晋封为嫔。以昭恩眷。钦此。特行传谕。该部将应行典礼。察例具奏。
  3. ^ 《清高宗实录》 - 乾隆十年十一月册封为令嫔。命工部尚书哈达哈为正使、内阁学士伍龄安为副使。持节、册封贵人魏氏、为令嫔。册文曰。朕惟仰事璇闱。必选柔嘉之质。佐徽、椒掖。久推淑慎之姿。载考彝章。特加锡命。咨尔贵人魏氏、久娴姆教。长奉女箴。礼法是宗。凛小心而严翼。敬勤弗怠。遵内则以温恭兹仰承皇太后慈谕。册封尔为令嫔。尔其只膺巽命。迓景福以咸绥。益懋壸仪。荷鸿庥于方永。钦哉。
  4. ^ 《清高宗实录》 - 乾隆十四年四月初五册封为令妃。命协办大学士吏部尚书陈大受为正使。礼部侍郎木和林为副使。持节、册封令嫔魏氏为令妃。册文曰。朕惟赞化宫闱。必赖柔嘉之质。服勤内殿宜邀锡命之荣。爰沛纶音。式加象服。尔令嫔魏氏、夙娴内则。早侍深宫。淑慎居心。雅协珩璜之度恪勤效职。克襄苹藻之荣。兹仰承皇太后慈谕。以册印封尔为令妃。尔其钦承休命。永流翟舀之芳。只荷鸿禧。勉奉掖庭之职。钦哉。
  5. ^ 乾隆21年4月21日 令妃遇喜 添炭 4月26日添姥姥1位 6月4日添上夜大夫
  6. ^ 乾隆22年:5月26日 令妃遇喜 添炭 5月27日添守月大夫 ,6月11日添守月姥姥。
  7. ^ 《清高宗实录》 - 乾隆二十四年十二月十七日册封为令贵妃。命大学士傅恒为正使。协办大学士刘统勋为副使。持节册封令妃魏氏为贵妃。册文曰。朕为化起二南。赞理必资乎淑德。官分九御。褒荣递进夫崇阶。爰沛纶音。式加象服。尔令妃魏氏。素娴女诫。早侍掖庭。勤慎居心。柔嘉著范。钦承圣母。供内职以无违。敬佐中宫。禀徽音而有恪。前晋封乎妃秩。已越十年。今称庆于宫闱。恭逢万寿。奉皇太后慈谕。册封尔为贵妃。尚其克承荣锡。永流翟舀之光。益懋芳徽。式协珩璜之度。钦哉。
  8. ^ 乾隆十年。乙丑。十一月。癸未。以册封纯贵妃、娴贵妃、愉妃、令嫔、遣官祭告太庙后殿。奉先殿。
  9. ^ 乾隆十四年, 四月辛巳。以册封皇贵妃摄六宫事、并册封贵妃、令妃、舒妃、婉嫔、遣官祭告太庙后殿。奉先殿。
  10. ^ 乾隆二十四年。己卯。十一月。○丁卯。谕、来年为朕五十诞辰。又来年即恭值圣母皇太后七旬万寿。钦奉懿旨。彤闱集福。盛典骈臻。令妃、庆嫔、頴嫔、贵人博尔济锦氏。俱淑慎敬恭。兄勷内职。宜加册礼。以宏嘉禧。令妃著晋封贵妃庆嫔頴嫔著晋封为妃。贵人博尔济锦氏、著晋封为嫔。钦此所有应行典礼各该衙门敬谨察例举行.
  11. ^ 乾隆三十三年 ,六月。己未。以册封。庆贵妃。容妃顺嫔遣官祭告太庙后殿。奉先殿
  12. ^ 乾隆三十年。乙酉。六月。甲寅。以册封令皇贵妃。遣官祭告太庙后殿。奉先殿
  13. ^ 乾隆三十年五月初十晋封为皇贵妃: ○谕、奉皇太后懿旨。令贵妃敬慎柔嘉。温恭端淑。自膺册礼。内治克勷。应晋册为皇贵妃。以昭壸范。钦此。所有应行典礼。各该衙门照例举行。命大学士公傅恒、为正使。协办大学士吏部尚书陈宏谋、为副使。持节册封令贵妃魏氏、为皇贵妃。册文曰。朕惟彤闱赞化。本敬顺以扬庥。紫掖升名。表恪恭而锡庆。爰稽彝典。式播温纶。咨尔令贵妃魏氏、早侍深宫。夙娴懿范。襄廿年之内治。麟趾凝祥。超九御之崇班。凤章优秩。自膺册命。益茂芳徽。只事小心。克承欢于璇殿。含章明顺更流誉于椒庭。兹仰奉皇太后懿旨。以册宝晋封尔为皇贵妃。尚其勉副慈恩。光昭壸德。永怀淑慎。辉翟服以垂型。弥凛谦冲。绵鸿禧而迓福。钦哉。
  14. ^ Một phủ sở ở ngoài Tử Cấm Thành, Phi tần hoặc Hoàng tử Hoàng nữ không phải đích xuất thì khi hấp hối đều đưa ra đây
  15. ^ 憩承光殿作: 为娱圣母情,宜割贤妃绻
  16. ^ 《清高宗实录》皇贵妃薨。谕、本月二十九日。皇贵妃薨逝。着称令懿皇贵妃。依例辍朝五日。派皇六子、皇八子、皇十二子、皇十五子、皇孙绵德、绵亿、绵惠、九公主、额驸拉旺多尔济、扎兰泰、及丹巴多尔济、丰绅济伦、穿孝。并派皇六子、尚书永贵、总管内务府大臣金简、经理丧仪。所有应行典礼。着各该衙门察例具奏。
  17. ^ 《清高宗实录》: 二月○癸未。上至吉安所、临送令懿皇贵妃金棺、移殡静安庄。
  18. ^ 《清高宗实录》: 己丑。○命简亲王丰讷亨为正使。协办大学士尚书官保为副使。赍册宝。诣静安庄。赠谥皇贵妃为令懿皇贵妃。
  19. ^ 《清高宗实录》: ○癸巳。令懿皇贵妃行初祭礼。上命皇十五子永琰奠酒。○癸卯。令懿皇贵妃行大祭礼。上命皇十五子颙琰奠酒。五月○癸丑。令懿皇贵妃行百日祭礼。上命皇十五子颙琰奠酒。
  20. ^ 《清高宗实录》: 十月○壬辰。上至静安庄。视令懿皇贵妃金棺、奉移胜水峪启行。上命皇十五子颙琰恭送。于是月二十六日。奉安孝贤皇后陵寝。上还宫。
  21. ^ Dịch từ bạch thoại bài thơ: 从前她在你身边伺候,接受过你的教诲。如今她奉安在你身边,可以像你活着时一样,侍奉你的在天之灵。 Trích từ Lệnh Ý Hoàng quý phi kim quan phụng an địa cung cáo tế Hiếu Hiền hoàng hậu tế văn (令懿皇贵妃金棺奉安地宫告祭孝贤皇后祭文)
  22. ^ 乾隆四十年二月十一日册谥皇贵妃为令懿皇贵妃。 命简亲王丰讷亨为正使。协办大学士吏部尚书官保为副使。赍册宝。诣静安庄。赠谥皇贵妃为令懿皇贵妃。册文曰。秩尊九御。崇仪留翚翟之班。礼重三宫。遗媺着苕华之管。惟赞内久钦淑范。象德允符斯饰终用锡嘉名。鸿章克协。聿稽上谥。式阐芳徽。惟皇贵妃魏氏性秉温恭。衷全诚敬。溯承仪于宸掖。珩璜之矩无愆。洊领职于轩宫。图史之箴弥谨。金萱敬奉。承欢嘉衿佩之风。玉叶蕃敷。占吉叶弓禖之喜。饬小心以自毖。撝抑时形。怀内则以长存。庥和宜集。何百龄之未半竟一病之弗瘳。三十年椒壁如新。空余芬烈。廿九日蓂阶初落莫驻春韶。追畴昔之令名。休称犹在。概平生之懿德。节惠加隆。行以光昭。礼惟宜称兹以册宝。谥曰令懿皇贵妃于戏。云軿已杳宫闱空仰夫音尘。瑶检重颁。宝册徒供夫明器念芳规其不沬。难穷诔德之辞。副嘉号以克谐。益切思贤之感。用彰彝典式播徽音。
  23. ^ 清代孤本内阁六部档案续编: 皇貴妃儀仗此全份儀仗並加增儀仗十八件隨架衣帶帽一百十二件組與乾隆四十年十月十八日發往東陵放訖比分內外加儀仗十八件
  24. ^ 欽定大清會典: 皇貴妃儀仗拂二金鑪合槃盂各一金缾二金方几一金交倚一次七鳳明黄曲柄蓋一節二明黄赤黒花繖各二赤黑瑞草繖各二金黄赤黒素扇各二赤黒雉尾扇各二金黄金鳳旗二赤黒金鳳旗各二赤黒素旗各二卧𤓰立𤓰吾仗各四明黄八人儀轎一儀輿一八人翟轎一
  25. ^ 清代孤本内阁六部档案续编: 皇貴妃儀仗一分共伍拾捌件乾隆四十年十月十八日發往東陵放訖
  26. ^ 欽定大清會典: 貴妃儀仗減金黄赤黒素扇各二金黄金鳳旗二赤黒素旗各二臥𤓰立𤓰吾仗各二七鳳曲柄蓋花繖及轎輿色用金黄餘與皇貴妃同
  27. ^ 清代孤本内阁六部档案续编: 慶貴妃儀仗一分共肆拾件乾隆四十年十月十八日發往東陵放訖
  28. ^ 乾隆六十年十月,册赠令懿皇贵妃为孝仪皇后。以册赠孝仪皇后。前期命睿亲王淳頴为正使。郑亲王乌尔恭阿为副使。是日、恭赍册宝。诣孝贤皇后陵。册赠令懿皇贵妃为孝仪皇后。册文曰、朕惟离继照以作明。诞膺福祚。坤承天而正位。长发祥源。贤卜于天。景命方隆于授受。贵徵以子。追封允协于尊崇。惟令懿皇贵妃魏氏、德着诚庄。性昭淑顺。柔嘉维则。班初亚于三宫。式礼无愆。秩洊升于九御。六五叶黄裳之卜。欢奉萱闱。千亿开朱芾之占。喜宜兰殿。昔笃生夫睿哲。兆协横庚。今懋建夫元良。纪行周甲。昭兹来许。万年之岁月方长。佑我后人。廿载之音容如昨。兹以储徽克茂。继序其皇。吉启密缄。既正前星之号。幸符夙愿。将循上日之文。嗣服无疆。承华有自。特溯云軿于桂阃。用怀月御于椒涂。茂举上仪。聿崇升祔。兹册赠为孝仪皇后。于戏。本笃庆衍禔之德。母允垂仪。循召正言顺之规。子当承统。福所基也。尔子孙克绍于鸿图。礼亦宜之。我国家肇称之盛典。志维先定。灵其歆承。钦哉。
  29. ^ 乾隆六十年。○太常寺奏。本月二十七日。孝仪皇后神牌。升祔奉先殿。例应前一日遣官告祭天、地、太庙后殿。谨将宗人府送到亲王等职名。缮请钦点。得旨、著不必举行。
  30. ^ 乾隆六十年。乙卯。十月。○己亥。上谕皇太子、皇子、军机大臣曰、国朝旧典。最重祭神。孝仪皇后、乃朕因系嗣皇帝生母。恩旨册赠。止应于奉先殿祭告。若因此而举行天地庙祀大典。转邻于渎。已著不必举行
  31. ^ 上谕档: 乾隆十六年九月二十二日,奉旨:令妃娘家包衣管领人,著从本旗包衣牛录拨出。钦此。
  32. ^ 上谕档:雍正十三年九月二十四日.格格黄氏著封为嫔,按黄氏之母家系包衣管领下人,著拨归本旗包衣佐领
  33. ^ 《为正黄旗冝品常在娘娘及家人入旗清册》 正黄旗通源佐领下查得本佐领下冝品娘娘于乾隆七年奉旨入旗,于二十二年五月薨逝
  34. ^ 内务府奏销档:乾隆二十二年十月 今陆士龙现有亲丁十五名口,仆人男妇二十三名口,俟到京之日,请照柏士彩等之例,入於内府镶黄旗英廉佐领下。
  35. ^ 乾隆六十年。乙卯。十一月。 ○谕曰、皇太子生母。已追封孝仪皇后。其家例宜晋封公爵。但孝仪皇后居孝贤皇后之次。著加恩暂赏一等侯爵。世袭罔替。交该旗照例拣选带领引见。寻予世管佐领花沙布一等侯爵如例。
  36. ^ 乾隆六十年。乙卯。十二月。○吏部疏请、孝仪皇后之父原任内管领清泰、追封为三等公。孝仪皇后之母杨佳氏、封为公妻一品夫人。得旨允行。
  37. ^ Thanh sử cảo - quyển 214 - Hậu phi liệt truyện
  38. ^ 徐鑫 (2016.07). 乾隆帝陵历史之谜. 沈阳:辽宁人民出版社. tr. 166–167. ISBN 978-7-205-08633-6. 
  39. ^ “歷史歷奇 令妃死後153年 屍不腐面帶笑”. 都市日報 (bằng tiếng zh-TW). Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2018. 
  40. ^ Bí ẩn thi thể Lệnh phi vẫn nguyên vẹn sau 153 năm chôn cất trong lăng mộ Càn Long
  41. ^ "Nghiên cứu về chế độ lăng tẩm triều Thanh" (清代园寝制度研究), nhà xuất bản Văn Vật (文物出版社):五、令皇贵妃魏佳氏即孝仪纯皇后所生的乾隆第十四子永璐,乾隆二十二年(1757)七月十七日生,乾隆二十五年(1760)三月十八日卒。年四岁,与永璨同券而葬。
10561-l-nh-ho-ng-qu-phi-la-gi.txt · Last modified: 2018/11/07 17:08 (external edit)