User Tools

Site Tools


10354-gi-o-d-c-khoa-c-th-i-h-la-gi

Differences

This shows you the differences between two versions of the page.

Link to this comparison view

10354-gi-o-d-c-khoa-c-th-i-h-la-gi [2018/11/07 17:08] (current)
Line 1: Line 1:
 +<​HTML><​br><​div><​p><​b>​Giáo dục và khoa cử thời Hồ</​b>​ trong lịch sử Việt Nam phản ánh hệ thống gáo dục và chế độ khoa cử nước Đại Ngu từ năm 1400 đến năm 1407.
 +</p>
  
 +
 +
 +<​p>​Từ cuối thời Trần, khi nắm quyền điều hành triều chính, Hồ Quý Ly đã bước đầu đã có những tác động toàn diện tới kinh tế - xã hội Đại Việt, trong đó có nền giáo dục. Từ năm 1392, Hồ Quý Ly đã soạn sách <​i>​Minh đạo</​i>​ 14 thiên dâng lên thái thượng hoàng Trần Nghệ Tông, phê phán một số danh nho, nghi ngờ một số chỗ của sách Luận Ngữ của Khổng Tử, phê phán thói giáo điều của các nhà Nho như Hàn Dũ, Chu Đôn Di, Trình Hiệu là "​trộm Nho", "cóp nhặt văn chương";​ đồng thời ông đề nghị khuyến khích thực học, kén người tài năng<​sup id="​cite_ref-1"​ class="​reference">​[1]</​sup>​.
 +</​p><​p>​Hồ Quý Ly hạn chế Phật giáo, Đạo giáo, đề cao Nho giáo, nhưng là thứ Nho giáo thực dụng, chống giáo điều, kết hợp với tinh thần Pháp gia. Hồ Quý Ly là vị vua đầu tiên phổ biến rộng rãi việc dùng chữ Nôm, đưa chữ Nôm lên vị trí quan trọng<​sup id="​cite_ref-2"​ class="​reference">​[2]</​sup>​. Điều đó được xem là biểu hiện của ý chí nêu cao tinh thần dân tộc<​sup id="​cite_ref-ReferenceA_3-0"​ class="​reference">​[3]</​sup><​sup id="​cite_ref-Hồ_Quý_Ly_và_ý_thức_dân_tộc_4-0"​ class="​reference">​[4]</​sup>​. Ông soạn sách Thi nghĩa (nghĩa của Kinh Thi) bằng chữ quốc âm rồi sai người dạy cho hậu phi và cung nhân học tập. Ông còn chép thiên <​i>​Vô dật</​i>​ (Không nên nhàn hạ) ra chữ quốc âm để dạy vua Trần Thuận Tông. Nhà nghiên cứu Trần Bá Nam cho rằng việc chú trọng chữ Nôm của Hồ Quý Ly trong hệ thống giáo dục đương thời có tác động đến thành tựu văn học chữ Nôm của những người kế tục sau đó, trong đó điển hình là Nguyễn Trãi<​sup id="​cite_ref-Hồ_Quý_Ly_và_ý_thức_dân_tộc_4-1"​ class="​reference">​[4]</​sup>​.
 +</​p><​p>​Hệ thống trường lớp tại các địa phương được Hồ Quý Ly thúc đẩy mở rộng từ cuối thời Trần và tiếp tục duy trì sang thời Hồ, theo đó tại các lộ xa như Sơn Nam, Kinh Bắc, Hải Đông, mỗi phủ đều đặt một học quan, ban ruộng công cho phủ, châu lớn 15 mẫu, vừa 12 mẫu và nhỏ 10 mẫu để chi dụng dạy học ở lộ, phải đốc thúc học quan dạy dỗ học trò để cho thành tài nghề. Mỗi cuối năm phải chọn người học giỏi tiến vào triều<​sup id="​cite_ref-informatik.uni-leipzig.de_5-0"​ class="​reference">​[5]</​sup>​. Hệ thống trường học này do các nhà nho và thái học sinh không làm quan, về nhà dạy học.
 +</​p><​p>​Cũng như các triều đại Lý, Trần trước đây, nhà Hồ lấy Tứ Thư và Ngũ Kinh làm cơ sở cho học vấn và khoa cử; đồng thời học về lịch sử Trung Hoa. Các học trò phải hiểu biết về đề tài trị nước, an dân.
 +</​p><​p>​Sau khi lên nối ngôi cha, Hồ Hán Thương đặt ra nhã nhạc, con các quan văn làm Kinh vĩ lang, con các quan võ làm Chỉnh đốn lang, học tập hai điệu văn võ <sup id="​cite_ref-ReferenceB_6-0"​ class="​reference">​[6]</​sup>​.
 +</p>
 +
 +<​h3><​span id="​Ch.E1.BA.BF_.C4.91.E1.BB.99_khoa_c.E1.BB.AD"/><​span class="​mw-headline"​ id="​Chế_độ_khoa_cử">​Chế độ khoa cử</​span><​span class="​mw-editsection"><​span class="​mw-editsection-bracket">​[</​span>​sửa<​span class="​mw-editsection-divider">​ | </​span>​sửa mã nguồn<​span class="​mw-editsection-bracket">​]</​span></​span></​h3>​
 +<​p>​Từ năm 1396 dưới thời Trần Thuận Tông, lệ thi 4 trường được Hồ Quý Ly quy định lại so với quy chế trước đó, bỏ cách thi ám tả cổ văn mà định ra tứ trường văn thể gồm<​sup id="​cite_ref-7"​ class="​reference">​[7]</​sup>:​
 +</p>
 +<​dl><​dd>​Trường 1: thi kinh nghĩa</​dd>​
 +<​dd>​Trường 2: thi thơ phú</​dd>​
 +<​dd>​Trường 3: thi chế, chiếu, biểu</​dd>​
 +<​dd>​Trường 4: thi văn sách</​dd></​dl><​p>​Đến tháng 2 năm 1404, Hồ Hán Thương quy định cách thức thi cử nhân gồm thi Hương, thi ở Bộ Lễ, thi Hội (đỗ Thái học sinh). Các đợt thi đều tổ chức vào tháng 8 hàng năm. Ai đỗ cấp nào sẽ được hưởng chế độ ưu đãi tùy theo, như đỗ thi Hương được miễn lao dịch, đỗ ở Bộ Lễ thì miễn đi lính<​sup id="​cite_ref-ReferenceB_6-1"​ class="​reference">​[6]</​sup>​.
 +</​p><​p>​Phép thi của nhà Hồ bắt chước theo lối văn thể của nhà Nguyên, nhưng chia ra làm 4 kỳ, có thêm kỳ thi viết chữ và tính toán, thành ra 5 kỳ, nhưng mới thực hiện tại kỳ thi ở Bộ Lễ thì xảy ra chiến tranh nên không thực hiện được nữa. Đây là lần đầu tiên môn toán được đưa vào nội dung thi chính thức<​sup id="​cite_ref-ReferenceB_6-2"​ class="​reference">​[6]</​sup></​p><​p>​Những đối tượng không được đi thi gồm quân nhân, phường chèo và người có tội.
 +</​p><​p>​Tuy coi trọng chữ Nôm nhưng Hồ Quý Ly mới dừng lại ở việc dịch sách vở chữ Hán ra chữ Nôm và viết sách chữ Nôm, còn việc thi cử vẫn thực hiện bằng chữ Hán<sup id="​cite_ref-ReferenceA_3-1"​ class="​reference">​[3]</​sup>​.
 +</p>
 +<​h3><​span id="​C.C3.A1c_khoa_thi"/><​span class="​mw-headline"​ id="​Các_khoa_thi">​Các khoa thi</​span><​span class="​mw-editsection"><​span class="​mw-editsection-bracket">​[</​span>​sửa<​span class="​mw-editsection-divider">​ | </​span>​sửa mã nguồn<​span class="​mw-editsection-bracket">​]</​span></​span></​h3>​
 +<​p>​Nhà Hồ chỉ tồn tại 7 năm, trong thời gian đó đã tổ chức 2 kỳ thi, lấy gần 200 người đỗ, trong đó có 1 trạng nguyên<​sup id="​cite_ref-Mai_Hồng,​_sách_đã_dẫn,​_tr_20_8-0"​ class="​reference">​[8]</​sup>​.
 +</​p><​p>​Tháng 8, Canh Thìn, năm Thánh Nguyên thứ 1 (1400), đời Hồ Quý Ly tổ chức kỳ thi đầu tiên, lấy Lưu Thúc Kiệm đỗ trạng nguyên, cùng 20 người khác đỗ thái học sinh, trong đó có Nguyễn Trãi, Lý Tử Tấn, Vũ Mộng Nguyên, Hoàng Hiến, Nguyễn Thành v.v.<sup id="​cite_ref-informatik.uni-leipzig.de_5-1"​ class="​reference">​[5]</​sup>​. Đầu đề bài phú là "Linh kim tàng" <sup id="​cite_ref-9"​ class="​reference">​[9]</​sup>​. Lưu Thúc Kiệm trở thành trạng nguyên duy nhất dưới thời Hồ<sup id="​cite_ref-Mai_Hồng,​_sách_đã_dẫn,​_tr_20_8-1"​ class="​reference">​[8]</​sup>​.
 +</​p><​p>​Tháng 7 năm 1405, Hồ Hán Thương tổ chức kỳ thi ở Bộ Lễ, lấy 170 người thi đỗ, gồm có Hồ Ngạn, Lê Củng Thần sung làm thái học sinh lý hành<​sup id="​cite_ref-10"​ class="​reference">​[10]</​sup>;​ Cù Xương Triều 6 người được sung làm học sinh ở Tư Thiện đường (Tư Thiện đường nguyên là tên nhà học của Thái tử nhà Trần).
 +</p>
 +
 +<​p>​Việc cải cách giáo dục là một phần của chương trình cải cách toàn diện mà Hồ Quý Ly đề xướng thực hiện Những cải cách của Hồ Quý Ly trong thi cử, tuyển chọn quan nhằm xây dựng nền giáo dục, văn hóa mang bản sắc dân tộc Việt<​sup id="​cite_ref-11"​ class="​reference">​[11]</​sup>​. Những định hướng của ông về một nền giáo dục của đất nước là: <​i>"​tỏ rõ giáo hoá, giữ phong tục"</​i>,​ với những quy định cụ thể nhằm nâng cao dân trí và đào tạo nhân tài cho đất nước<​sup id="​cite_ref-Hồ_Quý_Ly_và_ý_thức_dân_tộc_4-2"​ class="​reference">​[4]</​sup>​.
 +</​p><​p>​Nhà Hồ tồn tại ngắn ngủi, một số nhân tài đỗ đạt dưới thời Hồ sau này phục vụ cho nhà Lê sơ như Nguyễn Trãi, Lý Tử Tấn, Vũ Mộng Nguyên, Hoàng Hiến, Nguyễn Thành<​sup id="​cite_ref-informatik.uni-leipzig.de_5-2"​ class="​reference">​[5]</​sup>​.
 +</p>
 +
 +
 +<​ul><​li>​Viện Sử học (2007), <​i>​Lịch sử Việt Nam, tập 3</​i>,​ Nhà xuất bản Giáo dục</​li>​
 +<​li>​Viện Sử học (2007), <​i>​Lịch sử Việt Nam, tập 4,</​i>​ Nhà xuất bản Giáo dục</​li>​
 +<​li>​Mai Hồng (1989), <​i>​Các trạng nguyên nước ta</​i>,​ Nhà xuất bản Giáo dục</​li>​
 +<​li>​Phan Ngọc Liên (2006), <​i>​Giáo dục và thi cử Việt Nam</​i>,​ Nhà xuất bản Từ điển bách khoa</​li>​
 +<​li>​Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn chủ biên (2008), <​i>​Đại cương lịch sử Việt Nam</​i>,​ Nhà xuất bản Giáo dục</​li>​
 +<​li>​Đại Việt sử ký toàn thư</​li>​
 +<​li>​Khâm định Việt sử thông giám cương mục</​li></​ul>​
 +<div class="​reflist"​ style="​list-style-type:​ decimal;">​
 +<ol class="​references"><​li id="​cite_note-1"><​b>​^</​b>​ <span class="​reference-text">​Viện Sử học, sách đã dẫn, tập 3, tr 34.</​span>​
 +</li>
 +<li id="​cite_note-2"><​b>​^</​b>​ <span class="​reference-text">​Phan Ngọc Liên, sách đã dẫn, tr 68</​span>​
 +</li>
 +<li id="​cite_note-ReferenceA-3">​^ <​sup><​i><​b>​a</​b></​i></​sup>​ <​sup><​i><​b>​ă</​b></​i></​sup>​ <span class="​reference-text">​Viện Sử học, sách đã dẫn, tập 4, tr 468</​span>​
 +</li>
 +<li id="​cite_note-Hồ_Quý_Ly_và_ý_thức_dân_tộc-4">​^ <​sup><​i><​b>​a</​b></​i></​sup>​ <​sup><​i><​b>​ă</​b></​i></​sup>​ <​sup><​i><​b>​â</​b></​i></​sup>​ <span class="​reference-text">​Hồ Quý Ly và ý thức dân tộc</​span>​
 +</li>
 +<li id="​cite_note-informatik.uni-leipzig.de-5">​^ <​sup><​i><​b>​a</​b></​i></​sup>​ <​sup><​i><​b>​ă</​b></​i></​sup>​ <​sup><​i><​b>​â</​b></​i></​sup>​ <span class="​reference-text">​Đại Việt Sử ký Toàn thư, quyển VIII - Phụ: Hồ Quý Ly và Hán Thương</​span>​
 +</li>
 +<li id="​cite_note-ReferenceB-6">​^ <​sup><​i><​b>​a</​b></​i></​sup>​ <​sup><​i><​b>​ă</​b></​i></​sup>​ <​sup><​i><​b>​â</​b></​i></​sup>​ <span class="​reference-text">​Viện Sử học, sách đã dẫn, tập 3, tr 39.</​span>​
 +</li>
 +<li id="​cite_note-7"><​b>​^</​b>​ <span class="​reference-text">​Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn, sách đã dẫn, tr 262</​span>​
 +</li>
 +<li id="​cite_note-Mai_Hồng,​_sách_đã_dẫn,​_tr_20-8">​^ <​sup><​i><​b>​a</​b></​i></​sup>​ <​sup><​i><​b>​ă</​b></​i></​sup>​ <span class="​reference-text">​Mai Hồng, sách đã dẫn, tr 20</​span>​
 +</li>
 +<li id="​cite_note-9"><​b>​^</​b>​ <span class="​reference-text">​Nghĩa là: kho chứa gươm thiêng, lấy điển Lưu Bang dùng gươm chém rắn khi mới nổi lên chống nhà Tần</​span>​
 +</li>
 +<li id="​cite_note-10"><​b>​^</​b>​ <span class="​reference-text">​Tức là Thái học sinh chưa chính thức</​span>​
 +</li>
 +<li id="​cite_note-11"><​b>​^</​b>​ <span class="​reference-text">​Phan Ngọc Liên, sách đã dẫn, tr 71</​span>​
 +</li>
 +</​ol></​div>​
 +<​!-- ​
 +NewPP limit report
 +Parsed by mw1321
 +Cached time: 20181011220217
 +Cache expiry: 1900800
 +Dynamic content: false
 +CPU time usage: 0.132 seconds
 +Real time usage: 0.162 seconds
 +Preprocessor visited node count: 457/1000000
 +Preprocessor generated node count: 0/1500000
 +Post&#​8208;​expand include size: 24570/​2097152 bytes
 +Template argument size: 974/2097152 bytes
 +Highest expansion depth: 5/40
 +Expensive parser function count: 0/500
 +Unstrip recursion depth: 0/20
 +Unstrip post&#​8208;​expand size: 5275/​5000000 bytes
 +Number of Wikibase entities loaded: 0/400
 +Lua time usage: 0.020/​10.000 seconds
 +Lua memory usage: 747 KB/50 MB
 +--><​!--
 +Transclusion expansion time report (%,​ms,​calls,​template)
 +100.00% ​  ​80.805 ​     1 -total
 + ​70.26% ​  ​56.770 ​     1 B&#​7843;​n_m&#​7851;​u:​L&#​7883;​ch_s&#​7917;​_Vi&#​7879;​t_Nam_th&#​7901;​i_H&#​7891;​
 + ​63.32% ​  ​51.162 ​     1 B&#​7843;​n_m&#​7851;​u:​Navbox
 + ​15.04% ​  ​12.152 ​     1 B&#​7843;​n_m&#​7851;​u:​L&#​7883;​ch_s&#​7917;​_gi&​aacute;​o_d&#​7909;​c_Vi&#​7879;​t_Nam
 + ​14.37% ​  ​11.613 ​     1 B&#​7843;​n_m&#​7851;​u:​Tham_kh&#​7843;​o
 +  8.92%    7.207      1 B&#​7843;​n_m&#​7851;​u:​H&#​7897;​p_&#​273;​i&#​7873;​u_h&#​432;&#​7899;​ng
 +  3.36%    2.718     14 B&#​7843;​n_m&#​7851;​u:&​bull;​
 +  3.03%    2.449      3 B&#​7843;​n_m&#​7851;​u:​Nowrap_begin
 +  2.48%    2.004      3 B&#​7843;​n_m&#​7851;​u:​Nowrap_end
 +  2.15%    1.740      5 B&#​7843;​n_m&#​7851;​u:&​bull;​w
 +--><​!-- Saved in parser cache with key viwiki:​pcache:​idhash:​794466-0!canonical and timestamp 20181011220216 and revision id 20453850
 + ​--></​div>​
 +
 +</​HTML>​
10354-gi-o-d-c-khoa-c-th-i-h-la-gi.txt · Last modified: 2018/11/07 17:08 (external edit)